4 sai lầm về hiểu biết ung thư cổ tử cung

14:28 |
"Đã tiêm ngừa HPV thì chắc chắn không bị ung thư cổ tử cung", "sau khi chích ngừa HPV không cần phải làm xét nghiệm tầm soát ung thư cổ tử cung nữa"... là những cách hiểu không chính xác. 

Ung thư cổ tử cung là căn bệnh rất phổ biến, gây tác hại nghiêm trọng đến sức khỏe sinh sản và ảnh hưởng đến hạnh phúc gia đình của người bệnh. Đến nay nhiều phụ nữ bắt đầu nâng cao ý thức phòng bệnh bằng cách tiêm văcxin chủng ngừa, tuy nhiên trên thực tế kiến thức của chị em về căn bệnh này và việc chủng ngừa còn nhiều hạn chế. 



Một khảo sát thực hiện trên 200 phụ nữ tại TP HCM ghi nhận có tới 17,96 % người nghĩ rằng "Đã chủng ngừa HPV thì có thể yên tâm 100% không bị ung thư cổ tử cung". 19,90% người nghĩ sau khi chủng ngừa HPV không cần phải làm xét nghiệm tầm soát ung thư cổ tử cung (PAP) định kỳ. Hầu hết đều nói rằng nữ giới chưa quan hệ tình dục mới nên chích ngừa ung thư cổ tử cung. 

Khảo sát cũng cho thấy đa số phụ nữ tìm hiểu về căn bệnh ung thư cổ tử cung và thuốc chủng ngừa HPV qua các nguồn không chính thức, phần lớn từ bạn bè (chiếm 50,5%). Chỉ 2,9% tìm hiểu qua nhân viên y tế. Đây có thể là nguyên nhân khiến sự hiểu biết của chị em về bệnh ung thư cổ tử cung cũng như văcxin phòng ngừa chưa đầy đủ và chính xác. 

Tiến sĩ, bác sĩ Võ Đăng Hùng, Trưởng khoa Ung Bướu, Bệnh viện Đa khoa Tâm Trí Sài Gòn nêu và giải thích rõ một số quan niệm sai lầm phổ biến về văcxin ung thư cổ tử cung như sau: 

1. Chích ngừa văcxin thì chắc chắn 100% không bị ung thư cổ tử cung 

Thực tế, nguyên nhân chính gây ung thư cổ tử cung là virus HPV. Có hàng trăm chủng HPV nhưng chỉ một số gây ung thư. Các nghiên cứu ghi nhận chủng HPV 16, 18, 45, 31, 33 là "thủ phạm" gây ra khoảng 83% các trường ung thư cổ tử cung. 

Hiện tại ở nước ta cũng như trên thế giới chỉ có văcxin ngừa HPV 16 và 18. Hai chủng này chiếm tỷ lệ cao nhất, gây ra khoảng 70% các ca ung thư cổ tử cung. Điều đó có nghĩa là trong 100 người tiêm ngừa, chỉ có 70 trường hợp được bảo vệ, 30 người còn lại vẫn có thể bị ung thư như bình thường. 

2. Tất cả phụ nữ cần tiêm ngừa ung thư cổ tử cung 

Thật ra không phải tất cả phụ nữ đều phải tiêm ngừa ung thư cổ tử cung. Theo khuyến cáo, các bé gái và phụ nữ trong độ tuổi từ 9, 10 đến 25, 26, có hoặc chưa quan hệ tình dục nên tiêm văcxin này. 

3. Tiêm văcxin thì không được quan hệ tình dục.

Nếu quan hệ, dùng bao cao su được không? Sự thật: Tiêm văcxin và quan hệ tình dục không có liên quan gì với nhau. Bao cao su chỉ là biện pháp tránh thai và hạn chế các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục mà thôi. 

 4. Khi lỡ lịch tiêm văcxin các mũi tiếp theo thì cần phải tiêm lại từ đầu 

 Sự thật: Trên nguyên tắc tiêm văcxin phải đủ và đúng lịch. Tuy nhiên trong tiêm chủng ngừa ung thư cổ tử cung, nếu "lỡ" trễ thì nên tiêm mũi tiếp theo, không nhất thiết phải tiêm lại từ đầu.
Xem tiếp…

Lo lắng mắc ung thư cổ tử cung do nhiễm HPV

09:32 |
Tôi năm nay 28 tuổi, có hai con 5 tuổi và 4 tuổi. Gần đây khi quan hệ với chồng, tôi cảm thấy buốt rát, hôm sau đi tiểu thì thấy buốt và khó chịu. 

Tôi đi khám, kết quả xét nghiệm dương tính với HPV - DNA, nguy cơ cao nhóm A7 tuýp 18, 39, 45, 59, 68. Bác sĩ soi âm đạo kết luận bị viêm nên bác sĩ cho tôi và chồng cùng uống thuốc, đặt thuốc và thuốc rửa trong một tuần rồi tái khám. 



Sau đó, bác sĩ cho tôi thêm một tuần thuốc đặt và uống cùng với chồng rồi hẹn 3 tháng tái khám. Tôi rất lo lắng với vấn đề sức khỏe. Tôi có nguy cơ ung thư hay không, có cần uống thêm thuốc gì hay không? Nhờ bác sĩ giải đáp. Tôi xin chân thành cảm ơn. 

Bác sĩ trả lời: 

Chào chị, Trước tiên, cảm giác đau rát sau quan hệ kèm biểu hiện khó chịu như chị mô tả rất có thể xuất phát từ bệnh viêm âm đạo, đúng như chẩn đoán của bác sĩ phụ khoa. Viêm âm đạo không hiếm gặp và cũng dễ điều trị, sau 1-2 tuần dùng thuốc đặt và uống, tôi tin là tình trạng bệnh của chị đã cải thiện rõ rệt. 

Viêm âm đạo có thể tái phát nên chị cần thực hiện đúng các quy tắc dưới đây để phòng ngừa tốt nhất: 

- Giữ vệ sinh sạch sẽ trong kỳ kinh nguyệt, thai nghén, hậu sản, trước và sau khi quan hệ tình dục. 

- Tránh mặc quần lót quá chật hoặc ẩm ướt. 

- Không nên thụt rửa âm đạo khi không có chỉ định của bác sĩ. 

- Dùng nước sạch để tắm rửa, vệ sinh, tránh đi bơi hoặc tiếp xúc với nguồn nước bẩn. 

- Không nên dùng xà bông hoặc các dung dịch tẩy rửa mạnh để vệ sinh âm đạo. 

- Luôn luôn lau từ trước ra sau sau khi đi vệ sinh. Việc lau chùi, vệ sinh không đúng cách dễ làm lây lan vi khuẩn vào âm đạo, có thể dẫn đến tiết dịch âm đạo và nhiễm trùng. 

Quay lại với mối lo của chị về ung thư. Trong hơn 20 năm trở lại đây, y học đã phát hiện mối liên hệ mật thiết giữa ung thư cổ tử cung và HPV (human papillomavirus, virus gây u nhú ở người). Gần như 99% trường hợp bị ung thư cổ tử cung đều liên quan đến việc nhiễm HPV trước đây. Trong đó type 16 và 18 chiếm gần 70% trường hợp. 

Tuy nhiên, không phải cứ nhiễm HPV đều sẽ bị ung thư cổ tử cung. Ít nhất là HPV cần một thời gian tương đối trước khi có thể gây chuyển biến tiền ung và ung thư trên tế bào cổ tử cung. Do vậy, những người nhiễm HPV nguy cơ cao như trường hợp của chị sẽ cần những theo dõi định kỳ. 

Có nhiều xét nghiệm để theo dõi ung thư cổ tử cung, chẳng hạn như là PAP’s smear, cần lấy ra một ít tế bào ở vùng cổ tử cung, sau đó nhuộm và quan sát bằng kính hiển vi. Xét nghiệm này sẽ giúp phát hiện sớm các tế bào có hình dạng bất thường, thuật ngữ gọi là những tế bào dị sản hay trễ hơn chút là những tế bào chuyển sản hoặc ung thư tại chỗ. 

Khi có bất thường trong thăm khám hay trên xét nghiệm PAP, bác sĩ có thể soi cổ tử cung, quan sát dưới kính phóng đại, có hay không nhuộm màu. Kỹ thuật này giúp quan sát thấy những bất thường ở bề mặt cổ tử cung, đồng thời hỗ trợ sinh thiết cổ tử cung nếu cần. 

Theo những công trình nghiên cứu hồi cứu, rất may mắn là thời gian tiến triển của tiền ung thư cổ tử cung sang ung thư xâm lấn có thể kéo dài 8-10 năm. Vì thế cách xử trí có thể thay đổi từ bảo tồn tử cung cho đến cắt tử cung. 



Ðiều này có nghĩa là nếu phát hiện vào giai đoạn tiền ung thư như dị sản hay ung thư tại chỗ thì nguy cơ khỏi bệnh rất cao, chỉ khi bước sang giai đoạn ung thư xâm lấn thì tổn thương tiến triển rất nhanh, nếu không được điều trị sẽ dẫn đến tử vong trong 2-5 năm. Nếu phát hiện sớm, đa số trường hợp điều trị khoét chóp cổ tử cung thành công, cho tỷ lệ tái phát rất thấp. 

Lần tái khám sau 3 tháng của chị, có thể bác sĩ sẽ làm lại xét nghiệm PAP’s smear. Sau đó, chị cần theo dõi định kỳ bằng xét nghiệm này, có thể 6 tháng hay mỗi năm một lần. Ngay khi phát hiện những bất thường đầu tiên, bác sĩ phụ khoa sẽ có những chỉ định can thiệp phù hợp và triệt để. 

Chị không cần quá lo lắng về căn bệnh này, vì như vậy sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến chất lượng cuộc sống. Hãy tin tưởng rằng nhờ kỹ thuật xét nghiệp PAP định kỳ và các can thiệp sớm trên tế bào cổ tử cung bất thường, y học đã có thể khống chế rất tốt căn bệnh này. 


Thân ái. 
 Bác sĩ Nguyễn Tấn Thủ
Xem tiếp…

Virus HPV và những yếu tố tăng nguy cơ ung thư cổ tử cung

21:00 |
95% trường hợp ung thư cổ tử cung do virus HPV. Phụ nữ hút thuốc nguy cơ mắc bệnh gấp 2 lần. Uống thuốc ngừa thai trong một thời gian dài làm tăng nguy cơ. Ung thư cổ tử cung là loại ung thư phụ khoa hay gặp nhất và đứng hàng thứ 4 trong các loại ung thư ở phụ nữ. 

Cổ tử cung là ngõ vào của tử cung, là nơi nối giữa tử cung và âm đạo. Ung thư cổ tử cung tuy hay gặp nhưng dễ dàng phát hiện sớm bằng xét nghiệm tầm soát và có thể phòng ngừa chủ động được. 

Ung thư cổ tử cung nếu được phát hiện sớm ở giai đoạn đầu, khi ung thư chỉ khu trú chưa xâm lấn thì tỷ lệ chữa khỏi gần như hoàn toàn. 

Tuy nhiên, nếu để ung thư tiến triển qua giai đoạn trễ thì tỷ lệ chữa khỏi thấp hơn rất nhiều. Việc phòng ngừa, tầm soát, phát hiện sớm ung thư cổ tử cung rất quan trọng và vô cùng cần thiết. 

Nguyên nhân và yếu tố nguy cơ gây ung thư cổ tử cung 

Nhiễm virus HPV (Human Papilloma Virus) 

HPV có thể lây lan từ người này sang người khác khi tiếp xúc da với da. HPV lây truyền qua quan hệ tình dục, bao gồm cả âm đạo, hậu môn và thậm chí quan hệ tình dục bằng miệng. Có hai loại HPV: 

- HPV nguy cơ thấp: Nổi bật là 2 tuýp HPV 6 và HPV 1, gây ra hầu hết các trường hợp mụn cóc sinh dục, không liên quan đến ung thư cổ tử cung. 

- HPV nguy cơ cao: Nổi bật là HPV 16, HPV 18, HPV 31, HPV 33 và HPV 45. Trong đó HPV 16 và HPV 18 là thủ phạm gây ra 70% trường hợp ung thư cổ tử cung, 30% còn lại là do các tuýp khác. Ngoài ra, HPV loại nguy cơ cao cũng là nguyên nhân gây ung thư âm đạo, ung thư âm hộ, ung thư hậu môn, ung thư dương vật, ung thư miệng họng. 



Vài năm sau khi bắt đầu sinh hoạt tình dục, người phụ nữ có khả năng nhiễm HPV và nguy cơ mắc bệnh tăng theo số bạn tình trong đời. Phần lớn, cơ thể con người có miễn dịch tạo ra kháng thể để tiêu diệt virus. 

Tuy nhiên, một số trường hợp người phụ nữ không diệt được siêu vi trùng và bị nhiễm dần nặng lên. Sau vài năm, ADN của virus chui vào được DNA của tế bào người, làm tế bào cổ tử cung sinh sôi nảy nở không ngừng gây ung thư cổ tử cung. 

Vì vậy, những người có yếu tố nguy cơ cao bị ung thư cổ tử cung đồng nghĩa với những người có nguy cơ cao bị nhiễm HPV. Đó là những người quan hệ tình dục sớm, nhiều bạn tình, người mắc các bệnh lây lan qua đường tình dục. Không phải ai bị HPV cũng sẽ bị ung thư cổ tử cung. Nhưng ngược lại, có đến 95% các trường hợp ung thư cổ tử cung phát hiện thấy virus HPV. 

Bao cao su có thể bảo vệ trước hầu hết các bệnh lây truyền qua đường tình dục bao gồm cả HIV/AIDS, nhưng lại không hoàn toàn chống lại được HPV. Bởi vì virus HPV có thể lây truyền trực tiếp thông qua tiếp xúc tại vùng da không được bao phủ bởi bao cao su. 

Hút thuốc 

Phụ nữ hút thuốc có nguy cơ mắc ung thư cổ tử cung gấp 2 lần người không hút thuốc lá. Những chất có hại được hấp thu qua phổi và có theo dòng máu đi khắp cơ thể. Những chất này góp phần gây tổn hại ADN của tế bào cổ tử cung và có thể đóng góp vào sự phát triển của ung thư cổ tử cung. Hút thuốc cũng làm cho hệ thống miễn dịch kém hiệu quả trong việc chống nhiễm trùng HPV. 

Ức chế miễn dịch 

Virus suy giảm miễn dịch ở người (HIV), virus gây ra bệnh AIDS, tổn thương hệ thống miễn dịch và đặt phụ nữ có nguy cơ cao lây nhiễm HPV. Điều này có thể một phần giải thích sự gia tăng nguy cơ ung thư cổ tử cung ở phụ nữ bị AIDS. Ngoài ra, hệ thống miễn dịch còn quan trọng trong việc tiêu diệt các tế bào ung thư. 

Một nhóm phụ nữ khác có nguy cơ ung thư cổ tử cung như những người dùng thuốc nhằm ức chế miễn dịch của họ như những người đang điều trị cho một bệnh tự miễn hoặc những người cấy ghép nội tạng. 

Thừa cân 

Phụ nữ thừa cân có nhiều khả năng phát triển ung thư tuyến cổ tử cung. 

Sử dụng lâu dài thuốc tránh thai 

Có nghiên cứu cho rằng uống thuốc ngừa thai trong một thời gian dài làm tăng nguy cơ ung thư cổ tử cung. 

Tiền sử gia đình có người ung thư cổ tử cung. 



Các dấu hiệu và triệu chứng của ung thư cổ tử cung 

Phụ nữ bị ung thư cổ tử cung sớm và tiền ung thư thường không có triệu chứng. Triệu chứng sẽ xuất hiện trong giai đoạn muộn, khi đó ung thư đã xâm lấn. Khi điều này xảy ra, các triệu chứng phổ biến nhất là: 

- Chảy máu âm đạo bất thường, chẳng hạn như chảy máu sau khi quan hệ tình dục, chảy máu khi mãn kinh, chảy máu giữa chu kỳ kinh nguyệt, chảy máu sau khi thụt rửa hoặc sau khi khám phụ khoa. 

- Đau khi quan hệ tình dục. 

- Đau lưng. 

- Đi tiểu bị đau hoặc tiểu khó khăn và nước tiểu đục. 

- Rò rỉ nước tiểu hoặc chất cặn hôi từ âm đạo. 

Tầm soát phát hiện sớm ung thư cổ tử cung 

Nếu được phát hiện sớm, ung thư cổ tử cung là một trong những bệnh ung thư có thể điều trị thành công nhất. Nếu ung thư cổ tử cung ở giai đoạn sớm, khu trú tại chỗ tỷ lệ điều trị thành công 93%. Tuy nhiên, khi ung thư phát hiện ở giai đoạn trễ thì tỷ lệ trị khỏi chỉ 15%. 

Tầm soát phát hiện sớm ung thư cổ tử cung bằng xét nghiệm PAP. Xét nghiệm PAP (phết tế bào cổ tử cung) là một xét nghiệm tế bào học để tìm những tế bào bất thường trong lớp biểu mô cổ tử cung. 

Nếu xét nghiệm PAP có kết quả bất thường thì bác sĩ sẽ khám kỹ hơn: Soi cổ tử cung (giúp xác định vị trí, mức độ lan tỏa của tổn thương, đồng thời hướng dẫn cho sinh thiết cổ tử cung) và sinh thiết cổ tử cung (cắt mẫu mô của cổ tử cung để quan sát dưới kính hiển vi, cho kết quả rất chính xác). 

Nếu tầm soát định kỳ, sau khi sinh thiết có thể phát hiện ung thư ở giai đoạn sớm và khả năng chữa khỏi rất cao. Phụ nữ đã có quan hệ tình dục nên được phết tế bào cổ tử cung và khám phụ khoa mỗi năm một lần. Sau 3 lần liên tiếp với kết quả bình thường thì khoảng thời gian làm lại có thể thưa ra khoảng 2-3 năm một lần cho đến lúc 60 tuổi. 

Chủng ngừa phòng chống ung thư cổ tử cung 

Ung thư cổ tử cung do nhiều tuýp HPV gây ra, trong đó 70% trường hợp là HPV 16 và 18. Văcxin chủng ngừa ung thư cổ tử cung chỉ có hiệu quả với HPV 16 và 18, tức là phòng ngừa được 70% trường hợp. Còn 30% trường hợp ung thư cổ tử cung còn lại do các tuýp HPV khác thì chưa có văcxin phòng ngừa. Do đó, dù cho được tiêm văcxin cũng phải khám phụ khoa và làm xét nghiệm PAP định kỳ. 

Thuốc chích vào 3 kỳ trong sáu tháng, kỳ thứ hai cách thứ nhất 2 tháng, kỳ thứ ba cách thứ hai 4 tháng. Các loại văcxin chỉ có tác dụng ngăn ngừa nhiễm HPV chứ không điều trị tình trạng đã nhiễm HPV. Đó là lý do tại sao để có hiệu quả nhất, các loại văcxin HPV sẽ được tiêm trước khi một người phụ nữ bị nhiễm với HPV, tức trước khi có hoạt động tình dục trong đời. 


Bác sĩ Lê Nguyễn Khánh Duy
Xem tiếp…

Ung thư cổ tử cung, phần lớn do tình dục không an toàn

09:15 |

Ung thư cổ tử cung (UTCTC) đang trở thành nỗi khiếp sợ với phụ nữ khi tần suất mắc trong độ tuổi sinh đẻ lên đến 17%. Tuy nhiên, các chuyên gia trấn an rằng, có một sự hiểu nhầm nhất định về căn bệnh này bởi không phải ai nhiễm virus HPV là sẽ mắc bệnh.

80% phụ nữ có nguy cơ nhiễm

PGS.TS Nguyễn Trần Hiển, Viện trưởng Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương cho biết, theo thống kê ở nước ta hiện nay, mỗi năm có khoảng 5.170 ca mắc UTCTC mới, gần 2.500 ca UTCTC tử vong, tần suất mắc trong dân số là 11,4/ 100.000 dân. Đây được coi là nguyên nhân tử vong hàng đầu ở phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ với bình quân 10 ca tử vong mỗi ngày do căn bệnh này. 



Nguyên nhân dẫn đến UTCTC là do virus HPV gây ra, trong khi tỷ lệ nhiễm virus HPV ở phụ nữ nước ta rất cao. Cụ thể, phụ nữ từ 40-49 tuổi, tỷ lệ nhiễm HPV lên đến 43%, phụ nữ nhóm 30-39 tuổi có tỷ lệ nhiễm là 24%, nhóm 18-29 tuổi cũng có tỷ lệ nhiễm là 11%. Điều khó khăn nhất là virus này khi xâm nhập vào tế bào cơ thể rất khó phát hiện, cơ thể cũng không tự sinh ra được kháng thể đáp ứng chuyên biệt để chống chọi nên khó cứu chữa.

Ông Hiển nhấn mạnh, hiện đang có một số cách hiểu chưa đúng về HPV, khiến dư luận, nhất là giới phụ nữ hoang mang. Rất nhiều người nghĩ rằng cứ nhiễm HPV sẽ mắc UTCTC hay đã được tầm soát, xét nghiệp PAP ở bệnh viện cho thấy nhiễm HPV là đã mắc bệnh. Thực tế, độ chính xác của biện pháp tầm soát bằng xét nghiệm nhanh PAP không cao, chỉ khoảng 50-60% cho nên người đã được xét nghiệm dương tính với virus này cũng chưa thể khẳng định ngay được.

Tình dục càng nhiều càng dễ mắc

Một nghiên cứu thú vị là UTCTC có liên quan mật thiết với độ tuổi, mức độ quan hệ tình dục. Thực tế khoảng 80% người trong độ tuổi sinh sản (15-49 tuổi) có nguy cơ nhiễm HPV ở một thời điểm nào đó. Nguyên nhân là do virus HPV lây truyền chủ yếu qua đường tình dục, thâm nhập qua các vết trầy xước, vết loét dù rất nhỏ. Ngoài ra, HPV cũng có thể lây từ mẹ sang con hoặc lây qua các vật truyền như đồ lót, găng phẫu thuật… nhưng tỷ lệ ít hơn.

Ths.BS Lê Thị Kiều Dung, ĐH Y dược TP. Hồ Chí Minh cho biết, nguy cơ mắc UTCTC cao đến đâu còn phụ thuộc vào số lượng bạn tình, tần số giao hợp, vệ sinh bộ phận sinh dục, số con… của người phụ nữ. Do đó, quan hệ tình dục càng sớm, càng nhiều thì nguy cơ mắc UTCTC càng cao.

TS.BS Cao Hữu Nghĩa, Viện Pasteur TP Hồ Chí Minh cho biết thêm, đường lây chính của UTCTC là nhiễm qua tiếp xúc da, niêm mạc dương vật với niêm mạc cổ tử cung, âm đạo chứ không qua đường máu hoặc qua các dịch khác của cơ thể (tinh dịch, dịch âm đạo...).

Nam cũng như nữ đều có khả năng bị HPV tấn công. Riêng ở nữ giới, nguy cơ nhiễm cao nhất là ở thời điểm bắt đầu có quan hệ tình dục và nhiều trường hợp nhiễm dai dẳng ở cổ tử cung tiến triển thành các tổn thương tiền UTCTC.

PGS.TS Nguyễn Trần Hiển cho biết, UTCTC là loại ung thư có thể phòng tránh được và biện pháp phòng chống hữu hiệu nhất là vaccine. Ở nước ta, vaccine ngừa UTCTC đã được Bộ Y tế cấp phép sử dụng từ năm 2008 với chỉ định ngăn ngừa UTCTC cho trẻ em gái và phụ nữ từ 9 đến 26 tuổi.

Vaccine này chỉ đạt hiệu quả cao nhất khi phụ nữ chưa có quan hệ tình dục. Cũng như các loại vaccine khác, việc tiêm vaccine phòng ngừa nhiễm HPV không có hiệu quả phòng bệnh 100%. Trong khi đó, các biện pháp tầm soát ung thư vẫn được duy trì nhưng hiệu quả chưa cao do các phòng xét nghiệm chưa đồng bộ. Còn biện pháp phòng bệnh thụ động nhất là… không quan hệ tình dục thì khó khả thi.
Xem tiếp…

ads

.

Ý kiến đóng góp của bạn





XEM NHIỀU