Sa tử cung gây ảnh hưởng chất lượng sống của chị em

09:14 |
Sa sinh dục thường gọi là sa dạ con hay sa tử cung. Nhưng thực tế không chỉ dạ con mà thường cả bàng quang và trực tràng sa vào trong âm đạo. Trường hợp nặng, các tạng trên có thể sa ra ngoài âm đạo. Do đó, người ta gọi là sa sinh dục. 

Đây là bệnh không nguy hiểm đến tính mạng nhưng ảnh hưởng rất nhiều đến sinh hoạt, lao động của phụ nữ. Chị em thường cam chịu, giấu bệnh vì căn bệnh khó nói này nên phải đối mặt với nhiều khó khăn trong cuộc sống, đặc biệt là rắc rối trong quan hệ vợ chồng. 


Tử cung là một tạng nằm sâu trong ổ bụng. Nó được giữ tại chỗ bằng lớp cơ và các tổ chức vùng đáy chậu (dàn của phần dưới khung xương chậu), bởi các thành âm đạo và các dây chằng trong bụng và chậu hông. Nếu vì một lý do nào đó, các bộ phận neo giữ tử cung bị giãn, nhão ra thì áp lực trong ổ bụng (khi thở, khi rặn, khi ho) và sức nặng của tử cung sẽ đẩy, kéo nó tụt dần xuống thấp gây nên sa sinh dục với các mức độ khác nhau. 

Nguyên nhân sa sinh dục? 

Nguyên nhân gây bệnh có thể do: đẻ sớm, đẻ dày, đỡ đẻ không đúng kỹ thuật, sau đẻ lao động sớm hoặc lao động nặng, người ốm yếu suy dinh dưỡng sau đẻ hoặc thiếu ăn, suy dinh dưỡng, cơ thể ốm yếu, tất cả các nguyên nhân trên đều dẫn đến tình trạng các dây chằng của tử cung (dây chằng tử cung cùng, dây chằng tròn, dây chằng rộng và các mô liên kết), các cơ vùng đáy chậu bị giãn mỏng, suy yếu hoặc bị rách, không đủ sức giữ tử cung ở vị trí cũ. 

Do đó, khi có một động tác nào làm cho áp lực trong ổ bụng bị tăng lên như ho liên tục, đại tiện phải rặn nặng khi táo bón… sẽ đẩy tử cung sa xuống dưới và ra ngoài âm đạo. 

Biểu hiện của sa sinh dục? 

Trên lâm sàng, sa sinh dục (vị trí sa của cổ tử cung so với âm hộ) chia làm 3 độ sa sinh dục: độ 1 (độ nhẹ), độ 2 (vừa) và độ 3 (nặng). Tùy theo từng người, tùy mức độ sa nhiều hay sa ít, mới sa hay sa từ lâu, sa đơn thuần hay còn có thương tổn phối hợp, có kèm theo sa bàng quang hay trực tràng mà xuất hiện những dấu hiệu thường gặp sau đây: khó chịu, cảm giác tức nặng vùng cửa mình, ở bụng dưới, nhất là khi đứng, nhưng khi nằm thì hết cảm giác trên. 

Đôi khi có cảm giác muốn rặn đẻ vì các tĩnh mạch ở vùng đáy chậu bị sa sung huyết, đồng thời do áp lực trong thành bụng dồn xuống vùng đáy chậu đã bị suy yếu. Hay bị đau vùng sau thắt lưng. Tùy theo mức độ sa nhiều hay ít, thời gian sa mới hay đã lâu, sa đơn thuần hay có tổn thương phối hợp. 

Khối sa lồi ở vùng âm hộ, tầng sinh môn; Ban đầu kích thước khối sa nhỏ, sa không thường xuyên, xuất hiện khi lao động nặng hoặc đi lại nhiều, nằm nghỉ thì khối sa tụt vào trong âm đạo hoặc tự đẩy lên được, càng về sau khối sa càng to, sa thường xuyên, không tự đẩy lên được nữa. 

Tức nặng bụng dưới, cảm giác vướng víu khó chịu vùng âm hộ - tầng sinh môn, ảnh hưởng đến lao động và sinh hoạt hằng ngày của bệnh nhân. Nếu kèm theo sa bàng quang thì có dấu hiệu đi đái khó, đái dắt, són đái khi cười to, khi ho mạnh hay khi bị rùng mình, thường đái không hết nước tiểu nên bàng quang dễ bị viêm gây ra đái buốt. 

Trường hợp sa bàng quang nhiều thì lúc đầu đi tiểu rất khó khăn, phải dùng ngón tay đẩy bàng quang lên trên và vào trong mới đi tiểu được. Đôi khi bệnh nhân đến viện vì bí đái cấp. Nếu kèm theo sa trực tràng thì đại tiện có cảm giác vẫn còn chưa hết phân ở trực tràng, có thể bị táo bón. 


Nhiều người sa sinh dục nhưng kinh nguyệt vẫn bình thường và vẫn có khả năng có thai. Những phụ nữ này dễ bị sẩy thai và đẻ non. Chảy máu, khí hư ra nhiều do cổ tử cung viêm nhiễm, cọ xát làm người bệnh đi lại khó khăn, hạn chế lao động… 

Điều trị sa tử cung thế nào? 

Tuỳ độ sa mà sau khi thăm khám bác sĩ sẽ có chỉ định can thiệp ngoại khoa (thường khi sa mức độ 3). Trước đây, để điều trị bệnh sa sinh dục, các bác sĩ thường dùng phương pháp cắt tử cung, khâu treo bàng quang, làm lại thành trước và sau âm đạo hoặc phẫu thuật bịt âm đạo. 

Như vậy, đồng nghĩa với việc loại bỏ người bệnh khỏi “cuộc chơi yêu đương”, chấm dứt “chuyện yêu” của người phụ nữ khiến người phụ nữ luôn mặc cảm, đánh mất đi hạnh phúc làm vợ, làm mẹ của họ và gặp nhiều biến chứng. Hiện tại, bằng phương pháp chữa bệnh mới sẽ giúp người bệnh giữ được dạ con và vẫn sinh nở bình thường với điều kiện người bệnh phải điều trị sớm. 

10% phụ nữ Việt Nam mắc bệnh sa sinh dục sau sinh. Đó là kết quả do Bộ Y tế công bố, phần lớn người bệnh nằm trong độ tuổi từ 40 – 60. Người trẻ chưa đẻ lần nào cũng có thể bị sa sinh dục. Những phụ nữ đẻ nhiều, đẻ quá sớm, lao động nặng, không được đỡ đẻ an toàn và đúng kỹ thuật đều dễ mắc bệnh sa sinh dục. Cá biệt, một số ít phụ nữ còn mắc bệnh sa sinh dục từ hồi 25 - 30 tuổi do bẩm sinh cơ yếu. 


BS. Phạm Minh Nguyệt
Xem tiếp…

Sa tử cung (sa sinh dục) thông tin đầy đủ và chính xác

11:09 |
Sa sinh dục thường gọi là sa tử cung, nhưng chính xác hơn gọi sa sinh dục, vì trong nhiều trường hợp không những chỉ sa tử cung, mà còn sa cả thành trước âm đạo kèm theo có sa bàng quang và sa cả thành sau âm đạo kèm theo trực tràng. 

Sa sinh dục là một bệnh khá phổ biến ở phụ nữ Việt nam, nhất là phụ nữ ở nông thôn, trong lứa tuổi từ 40 – 50 trở lên chiếm khoảng 5 – 8%. Đây là bệnh không nguy hiểm đến tính mạng, nhưng lại ảnh hưởng nhiều đến sinh hoạt, lao động của phụ nữ. 



Bệnh thường gặp ở những người chửa đẻ nhiều, đẻ quá sớm, quá dày và những lần đẻ trước không không được đỡ đẻ an toàn, đúng kỹ thuật.

1. Cơ chế và nguyên nhân gây bệnh sa sinh dục

Bình thường, tử cung trong hố chậu là tư thế gập trước, thân tử cung hợp với cổ tử cung một góc 120 độ, tử cung hợp với trục âm đạo thành một góc 90 độ. Các tổ chức cơ và dây chằng giữ cho tử cung ở tư thế bình thường.

Những thay đổi sau có thể dẫn đến sa sinh dục: 

- Sự thay đổi tư thế tử cung: những tử cung ở tư thế đổ sau hoặc trung gian làm cho thân và cổ tử cung trên cùng một trục với âm đạo, dưới áp lực trong ổ bụng dễ làm cho tử cung và âm đạo sa ra ngoài. 

- Sự thay đổi các tổ chức của đáy châu: là nguyên nhân chính gây ra sa sinh dục. Ví dụ: cơ nâng hậu môn bị rách, các màng cơ bị giãn mỏng và yếu, nút thớ trung tâm bị phá huỷ. Những thay đổi này làm sa thành âm đạo rồi sẽ dẫn đến sa tử cung. 

Nguyên nhân sa sinh dục 

- Chửa đẻ nhiều lần, đẻ dày, đẻ không được đỡ đẻ an toàn đúng kỹ thuật, rách tầng sinh môn không khâu.

- Lao động nặng hoặc quá sớm sau đẻ làm tăng áp lực ổ bụng, đè vào đáy chậu còn mềm yếu dễ gây nên sa sinh dục.

- Các nguyên nhân gây tăng áp lực ổ bụng thường xuyên: mang vác, gánh gồng nặng, táo bón trường diễn, ho kéo dài, những người bán hàng rong thường xuyên ngồi bệt trên lề đường… 

- Rối loạn dinh dưỡng ở người già, hệ thống treo và nâng đỡ tử cung suy yếu. 

- Ngoài ra có thể do cơ địa bẩm sinh ở người chưa đẻ lần nào. 3. 

Sa sinh dục thường gặp ở phụ nữ đẻ sớm, đẻ nhiều lần


2. Phân loại sa sinh dục

Sa sinh dục ở người đẻ nhiều lần: Được chi làm 3 mức độ 
  
- Sa sinh dục độ I: + Sa thành trước âm đạo, kèm theo sa bàng quang. + Sa thành sau âm đạo, nếu sa nhiều kéo theo sa cả trực tràng. + Cổ tử cung sa thấp trong âm đạo nhưng chưa tới âm hộ. 

- Sa sinh dục độ II: + Sa thành trước âm đạo và bàng quang. + Sa thành sau âm đạo, có thể kèm sa trực tràng. + Cổ tử cung sa thập thò âm hộ. 

- Sa sinh dục độ III: + Sa thành trước âm đạo và bàng quang. + Sa thành sau âm đạo, có thể kèm theo sa trực tràng. + Tử cung, cổ tử cung sa thấp, cổ tử cung sa hẳn ra ngoài âm hộ. 

* Các thương tổn phối hợp: 

- Cổ tử cung thường viêm loét, phì đại do bị cọ sát lâu ngày với quần bệnh nhân. 

- Tử cung thường teo nhỏ do người già đã mãn kinh, song một số trường hợp có thể có u xơ tử cung hoặc u nang buồng trứng kết hợp. 

- Tầng sinh môn thường có vết rách cũ không được khâu tại điểm 6 giờ, cơ tầng sinh môn mềm nhão, suy yếu. 

- Một số trường hợp có sỏi bàng quang, viêm bàng quang, xuất huyết bàng quang – hậu quả của ứ trệ nước tiểu lâu ngày do niệu đạo bị gập. 

Sa sinh dục ở người chưa đẻ lần nào: Thường là sa tử cung đơn thuần, cổ tử cung dài, thò ra ngoài âm đạo, thành âm đạo không bị sa. 

3. Triệu chứng sa sinh dục

Triệu chứng cơ năng: 

Triệu chứng cơ năng tùy thuộc mức độ sa nhiều hay ít, thời gian sa mới hay đã lâu, sa đơn thuần hay còn có tổn thương phối hợp. Các triệu chứng cơ năng của sa sinh dục gồm có: 

- Khối sa lồi ở vùng âm hộ, tầng sinh môn: 
+ Ban đầu kích thước khối sa nhỏ, sa không thường xuyên, xuất hiện khi lao động hoặc đi lại nhiều, nằm nghỉ thì khối sa tụt vào trong âm đạo hoặc tự đẩy lên được. 
+ Càng về sau khối sa càng to, sa thường xuyên, không đẩy lên được nữa. 

- Tức nặng bụng dưới, cảm giác vướng víu khó chịu vùng âm hộ – tầng sinh môn, ảnh hưởng đến lao động và sinh hoạt hàng ngày của BN. 

- Các triệu chứng rối loạn tiểu tiện (do bàng quang và niệu đạo bị sa): Đái khó, đái buốt, són đái, đái ra máu khi có viêm bàng quang hoặc có sỏi bàng quang hình thành do sự ứ trệ nước tiểu lâu ngày. Đôi khi bệnh nhân đến viện vì bí đái cấp. 

- Rối loạn đại tiện (do sa trực tràng): đại tiện khó, táo bón, BN hay có cảm giác mót rặn, tức nặng vùng hậu môn. Các triệu chứng này ít gặp hơn so với rối loạn tiểu tiện. 

- Chảy máu, dịch từ cổ tử cung do cổ tử cung bị viêm nhiễm, cọ sát. - Sa sinh dục ở người trẻ có thể vẫn có thai nhưng dễ bị sảy thai hoặc đẻ non. 



Triệu chứng thực thể: Cần thăm khám cẩn thận, tỉ mỉ: 

Đánh giá kích thước, mức độ và các thành phần trong khối sa sinh dục: 

- Kích thước khối sa sinh dục có thể to nhỏ khác nhau tùy thuộc vào mức độ và thời gian sa sinh dục. Nếu có bí đái, phải thông tiểu để đánh giá kích thước khối sa sinh dục được chính xác. 

- Mức độ sa sinh dục: có 3 độ như đã nói ở trên. 

- Các thành phần trong khối sa sinh dục: thường là sa thành trước âm đạo (kèm theo sa bàng quang), sa thành sau âm đạo (có thể kèm sa trực tràng), sa cổ tử cung và thân tử cung. Cần đánh giá cổ tử cung có tổn thương viêm loét, phì đại hay không? 

Cho bệnh nhân ngồi rặn hoặc ho để khối sa sinh dục xuất hiện rõ hơn (nếu sa không thường xuyên). 

Khám tiểu khung: đẩy khối sa vào âm đạo, thực hiện thao tác thăm âm đạo kết hợp với nắn bụng để đánh giá kích thước, độ di động của tử cung và hai phần phụ, đánh giá mức độ dính của chúng trong trường hợp có vết mổ cũ, từ đó tiên lượng và dự kiến phương pháp phẫu thuật. 

Thăm trực tràng: mục đích để đánh giá mức độ sa trực tràng và độ dày của phên trực tràng – âm đạo giúp cho việc thực hiện phẫu thuật an toàn, đề phòng tổn thương trực tràng. 

Đánh giá tình trạng tầng sinh môn và cơ nâng hậu môn. 

Triệu chứng toàn thân: cần khám phát hiện các bệnh lý toàn thân như bệnh tim, phổi mãn tính, huyết áp cao… để điều trị nội khoa ổn định trước khi phẫu thuật sa sinh dục. 

4. Chẩn đoán sa sinh dục

Chẩn đoán xác định: 

- Đặc điểm của bệnh là thường gặp ở người từ 40 – 50 tuổi trở lên, bệnh tiến triển chậm, có thể từ vài năm đến hàng chôc năm. 

- Tiền sử thường đẻ nhiều, đẻ dày, không được đỡ đẻ an toàn, sau đẻ lao động nặng sớm. 

- Triệu chứng cơ năng gồm khối sa vùng âm hộ, tức nặng bụng dưới, kèm theo có thể có rối loạn đại, tiểu tiện. 

- Khám thực thể xác định kích thước, mức độ, nội dung khối sa; tình trạng tầng sinh môn; đánh giá vùng tiểu khung có khối u, có dính hay không?. 

Chẩn đoán phân biệt: Chẩn đoán sa sinh dục thường dễ, dẫu sao chúng ta cũng nên chú ý tới hai bệnh dễ nhầm với sa sinh dục, đó là: 

- Lộn tử cung. 

- Cổ tử cung dài và phì đại đơn thuần. 

5. Biến chứng sa sinh dục

Nói chung, sa sinh dục tiến triển chậm. Theo thời gian, nếu không được xử trí thì ngày càng sa nhiều hơn, mức độ sa nhanh hay chậm tùy thuộc vào tuổi tác và mức độ lao động nặng hay nhẹ. 

Biến chứng thường gặp do sa sinh dục:

- Viêm loét, chảy máu cổ tử cung kéo dài (do bị cọ sát), làm cho việc vệ sinh chăm sóc hàng ngày rất bất tiện. 

- Thành âm đạo sa dễ bị viêm, khô, rát, có thể xuất huyết do bị cọ sát; người bệnh đau đớn khó chịu, mất dần khả năng sinh hoạt tình dục. 

- Tử cung – phần phụ dễ bị viêm ngược dòng do viêm cổ tử cung. 

- Bàng quang và niệu đạo bị sa (theo thành trước âm đạo) gây rối loạn tiểu tiện, bí đái, lâu ngày dẫn đến viêm bàng quang, sỏi bàng quang, xuất huyết bàng quang, rò bàng quang – âm đạo, thận ứ niệu. 

- Khi thành sau âm đạo sa nhiều sẽ kéo theo sa trực tràng gây rối loạn đại tiện (ỉa khó, mót rặn, són phân…). 



6. Điều trị sa sinh dục

Điều trị nội khoa: Chỉ định với sa sinh dục độ I. Sa độ II, III nhưng bệnh nhân quá già, hoặc có bệnh toàn thân chống chỉ định phẫu thuật, hoặc bệnh nhân quá trẻ. 

Cách điều trị: 

- Cho đeo dụng cụ đỡ tử cung bằng chất dẻo (pesơ sinharium). 

- Dùng Estrogen tác dụng đơn thuần ở âm đạo. 

- Thể dục liệu pháp. 

- Ngâm tầng sinh môn và khối sa sinh dục hàng ngày trong các dung dịch sát trùng, nước chè xanh, nước sắc lá trầu không có tác dụng làm săn se niêm mạc âm đạo, chống viêm. 

- Điều trị các biến chứng nếu có. 

Điều trị ngoại khoa: Phẫu thuật là phương pháp chủ yếu trong điều trị sa sinh dục. Chỉ định sa sinh dục độ II và độ III, nghĩa là những trường hợp sa sinh dục có triệu chứng cơ năng mới cần phẫu thuật. 

Nguyên tắc: Các phẫu thuật sa sinh dục rất nhiều nhưng nguyên tắc chung để chọn lựa phẫu thuật như sau: 

- Phẫu thuật sa sinh dục nên tiến hành theo đường âm đạo hơn là đường bụng. 

- Các phẫu thuật nhằm phục hồi lại hệ thống đỡ tử cung (tức là làm lại thành trước âm đạo, thành sau âm đạo, khâu chặt lại cơ nâng hậu môn, khâu treo bàng quang) cho kết quả tốt hơn là phẫu thuật phục hồi lại các dây chằng tử cung (như treo dây chằng tròn vào thành bụng, treo tử cung vào ụ nhô).

Một số phẫu thuật thông thường 

* Các phẫu thuật bảo tồn âm đạo: 

Phẫu thuật Manchester: Chỉ định với phụ nữ trẻ, sa sinh dục độ II, người già, sa sinh dục độ II, không có điều kiện thực hiện PT Crosơ sinhen hoặc cắt tử cung hoàn toàn đường bụng. 

Phẫu thuật Crosơ sinhen: phương pháp này chủ yếu dùng cho người cao tuổi, từ 40 tuổi trở lên và sa sinh dục độ III.

Phẫu thuật Ameline – Huguier: Khâu treo tử cung vào mỏm nhô bằng một vạt da hay chất liệu tổng hợp, chỉ định cho những bệnh nhân trẻ bị sa sinh dục độ II, độ III.

Phẫu thuật Shirodkar: Làm ngắn dây chằng tử cung – cùng và đính nó vào eo trước tử cung, áp dụng cho người trẻ chưa sinh đẻ bị sa sinh dục độ II. 

* Các phẫu thuật làm bít âm đạo: Chỉ định sa sinh dục độ II hoặc độ III, bệnh nhân già trên 60 tuổi, không còn quan hệ tình dục nữa, cần được sự đồng ý của cả hai vợ chồng.

Phương pháp Lefort: khâu kín âm đạo lại, là phương pháp đơn giản nhất.

Phương pháp Labharth: xén bớt thành âm đạo sa, khâu bít âm đạo, tái tạo tầng sinh môn.

 Phương pháp Rouhier: cắt tử cung hoàn toàn rồi khâu kín âm đạo lại.

7. Phòng tránh sa sinh dục

- Không nên đẻ sớm quá, đẻ nhiều quá, đẻ dày quá. Phải đẻ ở nơi có điều kiện đỡ đẻ an toàn, đỡ đẻ đúng kỹ thuật.

- Không nên để chuyển dạ quá dài, không để rặn đẻ quá lâu.

- Các thủ thuật sản khoa phải làm đúng chỉ định, đúng kỹ thuật và đủ điều kiện tránh gây sang chấn cho âm đạo và tầng sinh môn.

- Nếu rách tầng sinh môn, dù nhỏ cũng phải khâu lại.

- Sau đẻ không nên lao động quá sớm và quá nặng. Cần phát hiện và điều trị sớm các bệnh mãn tính gây tăng áp lực ổ bụng thường xuyên (táo bón trường diễn, ho kéo dài…) là nguyên nhân dẫn đến sa sinh dục.

Xem tiếp…

ads

.

Ý kiến đóng góp của bạn