90% Chữa khỏi ung thư vú nếu được phát hiện sớm

09:10 |
Theo số liệu của viện nghiên cứu phòng chống Ung thư - Bệnh viện K Trung ương, mỗi năm có khoảng 12.000 trường hợp mới mắc ung thư vú. Việc tự kiểm tra vú có vai trò rất lớn để phát hiện sớm ung thư vú. Nếu phát hiện ở giai đoạn 1, cơ hội chữa khỏi lên tới 90%. Tuy nhiên, chỉ có 22% phụ nữ tự thực hiện tự khám vú.

Trên đây là những thông tin được đưa ra tại hội thảo “Tiếp cận toàn diện trong kiểm soát ung thư vú” do Quỹ hỗ trợ bệnh nhân ung thư – Ngày mai tươi sáng tổ chức ngày 26/3 tại Hà Nội. Chương trình có sự tham gia của 200 chuyên gia trong lĩnh vực điều trị ung thư trong nước và Quốc tế. 


Theo GS.TS Nguyễn Bá Đức – Phó Chủ tịch Hội ung thư Việt Nam, Nguyên Giám đốc Bệnh viện K, ở phụ nữ, nguy cơ mắc ung thư vú trung bình là khoảng 1/8 trong suốt cuộc đời. Có rất nhiều nguyên nhân dẫn tới ung thư vú như do gen, do các tác động của môi trường, do thức ăn. Tuy nhiên, theo nghiên cứu, nguyên nhân khiến phụ nữ Việt Nam bi ung thư vú do gen chỉ chiếm chưa tới 1% còn ở các nước khác chiếm tỷ lệ cao hơn, khoảng 30%. 

Có nhiều biện pháp điều trị ung thư vú như phẫu thuật, xạ trị, hóa chất và kết hợp với các phương pháp điều trị khác như: liệu pháp nội tiết tố, liệu pháp sinh học (điều trị nhắ trúng đích) và thực tế đã cải thiện đáng kể chất lượng điều trị ung thư vú. Tuy nhiên, yếu tố then chốt vẫn là việc điều trị tầm soát và phát hiện sớm ung thư vú. 

Nếu phát hiện ở giai đoạn 1 thì cơ hội chữa khỏi lên tới 90%, phát hiện ở giai đoạn 2 thì cơ hội chữa khỏi bệnh là 80%; ở giai đoạn 3 là 60%. Còn nếu ở giai đoạn muộn thì chỉ có thể chăm sóc giảm nhẹ. 

Chỉ có 22% phụ nữ thực hiện tự khám vú 

Tuy nhiên, số phụ nữ thực hiện tự kiểm tra vú chưa nhiều. GS.Antonio Lombart, người chuyên nghiên cứu về điều trị ung thư vú cho biết, qua nghiên cứu khảo sát, hiện mới chỉ có 22% phụ nữ tự khám vú và 65% phụ nữ không tự khám vú. 30% phụ nữ cho biết, không thích tự khám vú, 22% nói là quên. 

Theo GS. Nguyễn Bá Đức, Mỗi tháng, chị em chỉ cần bỏ ra 5 phút, tự khám vú mỗi tháng 1 lần, sau khi sạch kinh 5 ngày sẽ giúp chị em có tác dụng trong việc phát hiện sớm những biểu hiện của ung thư vú. 

Dưới đây là các bước tự kiểm tra vú mỗi ngày do Quỹ ung thư Vì ngày mai Tươi sáng khuyến cáo 

 

Bước 1: Đầu tiên hãy đứng thẳng người, chống hai tay vào hông và nhìn vào ngực của bạn trong gương. Bạn nên kiểm tra: Kích thước, hình dạng và màu sắc bầu ngực Bầu ngực tròn đều hay không, có những chỗ sưng nào bất thường 


- Có nếp nhăn hoặc phồng da trên ngực hay không, cần lưu ý nếu một núm vú tụt ngược vào trong 

- Da bị đỏ, đau nhức, nổi mẩn hoặc sưng bất thường tại khu vực bầu ngực Nếu bạn thấy bất kỳ dấu hiệu nào trên đây thì bạn nên đi khám để có những hướng kiểm tra và chuẩn đoán chính xác hơn. 

Bước 2: Nâng hai cánh tay của bạn lên cao và nhìn từ nhiều hướng khác nhau để kiểm tra xem ngực có sự thay đổi so với lần trước không.


Bước 3: Hãy kiểm tra xem có dịch rỉ ra từ núm vú hay không, bao gồm cả nước, sữa, dịch vàng và máu? 



Bước 4: Nằm ngửa trên giường, kê 1 chiếc gói mỏng hay 1 chiếc chăn vào vai trái. Đưa tay trái ra sau gáy. Dùng tay phải kiểm tra vú trái. Hãy day tròn tay phải trên ngực để cảm nhận tất cả các mô từ phía trước đến phía sau ngực của bạn. Ấn nhẹ nhàng nhưng dứt khoát để tìm kiếm khối u hay mảng dày hoặc bất cứ khác thường nào. 

Dùng ngón tay cái và ngón trỏ bóp nhẹ đầu vú xem có rỉ dịch hay không? Dùng ngón tay để tìm các u hạch dưới nách. Cứ tiếp tục kiểm tra các phần còn lại trên ngực và làm tương tự với phần ngực bên phải. 


Bước 5: Cuối cùng, hãy kiểm tra ngực của bạn trong khi tắm. Cách dễ nhất để cảm nhận rõ rệt về ngực là khi làn da của mình bị ướt. Do đó, hãy thực hiện bước này trong khi tắm. Kiểm tra toàn bộ vú của bạn bằng cách sử dụng các động tác tay cùng với mô tả trong bước 4.
Xem tiếp…

70% Ung thư buồng trứng phát hiện giai đoạn muộn

10:41 |
Chiếm tỷ lệ không lớn trong các bệnh ung thư thường gặp ở phụ nữ, nhưng ung thư buồng trứng là căn bệnh nguy hiểm khó tầm soát do dễ nhầm lẫn với các bệnh về đường tiêu hoá. Ước tính, mỗi năm tại Việt Nam khoảng 1.200 phụ nữ mắc phải căn bệnh trên, tỷ lệ sống sau 5 năm chỉ khoảng 45%. 

Thông tin trên được GS.TS.BS Nguyễn Chấn Hùng, Chủ tịch Hội ung thư Việt Nam cho biết trong Hội thảo liệu pháp kháng sinh mạch diễn ra tại TPHCM (ngày 23/4). Theo đó, so với ung thư vú thì số ca mắc mới ung thư cổ tử cung và ung thư buồng trứng chỉ chiếm khoảng 10% trong số các bệnh ung thư thường gặp ở phụ nữ. Tuy nhiên, bệnh nhân ung thư buồng trứng có tỷ lệ tử vong cao, và các bệnh ung thư cổ tử cung chẩn đoán ở giai đoạn muộn cũng có kết quả điều trị hạn chế. 


Nhấn mạnh về sự nguy hiểm của căn bệnh ung thư buồng trứng, GS Chấn Hùng cho hay: Hàng năm trên toàn thế giới có khoảng 240.000 phụ nữ bị mắc căn bệnh này, khoảng 150.000 trường hợp tử vong. Riêng tại Việt Nam, mỗi năm có khoảng 1.200 phụ nữ được chẩn đoán mắc ung thư buồng trứng với tỷ lệ sống toàn bộ sau 5 năm chỉ khoảng 45%. 

Ung thư buồng trứng là căn bệnh có tỷ lệ tử vong cao nhất trong các loại bệnh ung thư phụ khoa. Ung thư buồng trứng có thể gặp ở mọi lứa tuổi, đến nay chưa có một giải pháp cụ thể để tầm soát cho cả cộng đồng. Triệu chứng của căn bệnh trên thường dễ nhầm lẫn với các bệnh về đường tiêu hóa. Chính vì thế có tới 3/4 phụ nữ khi được phát hiện bị ung thư buồng trứng thì đã ở giai đoạn muộn khiến việc điều trị trở nên khó khăn, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe và tiên lượng sống của người bệnh. 

Đến nay, nguyên nhân gây ra căn bệnh ung thư buồng trứng vẫn còn là vấn đề tranh cãi trong giới chuyên môn. Tuy nhiên, phụ nữ ở độ tuổi tiền mãn kinh, mãn kinh (trên 50); phụ nữ mất khả năng sinh sản hoặc sinh con ở độ tuổi đã ngoài 30; lối sống thiếu lành mạnh, hút thuốc lá, ăn nhiều chất béo, lười vận động… là những yếu tố có thể dẫn tới căn bệnh ung thư buồng trứng. 

Để chấn đoán một trường hợp mắc ung thư buồng trứng hay không, các bác sĩ phải tiến hành khám lâm sàng, siêu âm qua lỗ âm đạo, sinh thiết bệnh phẩm, xét nghiệm. Những bệnh nhân khi đã xuất hiện triệu chứng có thể nhận biết được như: cảm giác nặng, tức ở vùng chậu, rối loạn tiểu, khối u phát triển chèn ép ruột gây táo bón… thì bệnh thường đã tiến triển ở giai đoạn xa. 

Theo GS Chấn Hùng, cùng với những phương pháp điều trị đã triển khai, từ cuối năm 2015, liệu pháp kháng sinh mạch đã được Bộ Y tế Việt Nam phê chuẩn trong phác đồ điều trị ung thư. Kháng sinh mạch đã góp phần tăng cường kho vũ khí giúp cho việc điều trị của người bệnh đạt hiệu quả khả quan hơn.
Xem tiếp…

Những triệu chứng ung thư buồng trứng chị em dễ bỏ qua

14:51 |
Khó chịu ở bụng, đầy bụng, bụng chướng, xuất huyết âm đạo, khó đi cầu hoặc táo bón là triệu chứng phổ biến của ung thư buồng trứng chị em thường không chú ý. Theo thạc sĩ, bác sĩ Nguyễn Minh Đức, Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Phúc An Khang, buồng trứng là cơ quan sản sinh tế bào trứng, đồng thời cũng là cơ quan nội tiết thuộc hệ sinh dục nữ. 

Buồng trứng tiết ra hormone estrogen và progesterone. Estrogen có vai trò hình thành đặc điểm giới tính thứ cấp của nữ giới ở tuổi dậy thì và duy trì cơ quan sinh dục ở trạng thái chức năng trưởng thành. Progesterone đóng trò chuẩn bị cho tử cung mang thai và tiết sữa ở tuyến vú. Cả 2 nội tiết tố này có chức năng thúc đẩy những thay đổi của chu kỳ kinh nguyệt và tác động vào nội mạc tử cung.

 
Bệnh lý xảy ra ở buồng trứng có 2 nhóm chính: Các khối u từ buồng trứng và bệnh lý do rối loạn nội tiết của buồng trứng. Khối u buồng trứng có thể ở dạng đặc hoặc lỏng. U dạng lỏng thường gọi là u nang buồng trứng. Trong trường hợp trứng không thể xuất ra từ các nang trong buồng trứng có thể hình thành một u nang buồng trứng. U này rất phổ biến ở nữ giới khỏe mạnh, không phải u nang nào cũng phải điều trị. 

Ung thư buồng trứng được xếp vào các dạng đặc biệt của u nang vì tính chất ác tính của ung thư chỉ biết được sau khi phẫu thuật, còn trước đó khi thăm khám vẫn chẩn đoán là u nang. Bệnh có thể xuất hiện ở mọi độ tuổi, thường được phát hiện trễ do triệu chứng của khối u rất mơ hồ. Hơn nữa, vị trí của buồng trứng tiếp xúc nhiều với ổ bụng nên thường có di căn xa từ rất sớm. 

Theo thống kê của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), ung thư buồng trứng là ung thư đường sinh dục phổ biến thứ hai, sau ung thư cổ tử cung. Đây cũng là ung thư đường sinh dục gây tử vong cao thứ hai sau ung thư cổ tử cung. Phụ nữ ở Bắc Mỹ và Bắc Âu có nguy cơ mắc bệnh này cao hơn các quốc gia còn lại. Tại Việt Nam, số liệu thống kê về xuất độ ung thư buồng trứng năm 2000 ở Hà Nội là 4,4 trên 100.000 dân, TP HCM là 3,7 trên 100.000 dân. 

Lứa tuổi thường bị ung thư buồng trứng là khoảng 60, nhiều nhất ở phụ nữ hậu mãn kinh. Bệnh cũng có thể gặp ở thiếu nữ 14-15 tuổi, thậm chí trẻ em dưới 10 tuổi, song tỷ lệ thấp. Đến nay nguyên nhân gây ung thư buồng trứng vẫn chưa được biết rõ ràng, theo thống kê ghi nhận bệnh này thường phát triển trên những cơ địa đặc biệt. 

Nhiều nghiên cứu cho thấy có những mối liên hệ rõ ràng giữa yếu tố nội tiết và tiền căn thai sản với nguy cơ mắc ung thư buồng trứng, cụ thể như: 

- Sinh đẻ ít và kinh thưa. Phụ nữ từng mang thai sẽ giảm một nửa nguy cơ ung thư buồng trứng. 

- Dinh dưỡng: Chế độ ăn nhiều mỡ làm tăng khả năng ung thư buồng trứng. Những người ăn nhiều chất có lactose như sữa mà thiếu men galactose-1-phosphate uridyltransferase tăng nguy cơ mắc ung thư buồng trứng. Ngược lại, vitamin A và C dường như có vai trò bảo vệ cơ thể khỏi bệnh này. 

- Yếu tố môi trường: Một số nghiên cứu cho thấy phụ nữ tiếp xúc với bột talc qua bao cao su hoặc giấy vệ sinh sẽ tăng nguy cơ mắc bệnh ung thư buồng trứng. Những người có tiền căn dùng phấn thơm ở vùng sinh dục có tỷ lệ ung thư cao hơn nhóm không sử dụng. 

- Một số nhà khoa học chỉ ra mối liên hệ giữa tia bức xạ ion, tia X-quang và ung thư buồng trứng, tuy nhiên đến nay vẫn còn nhiều bàn cãi. 

- Chưa có bằng chứng rõ ràng về mối liên hệ giữa virus và ung thư buồng trứng, nhưng có nhiều nghiên cứu cho thấy ảnh hưởng của virus như cúm, rubella, quai bị đối với ung thư buồng trứng. 

- Ung thư buồng trứng di truyền thường xảy ra sớm hơn 10 năm so với ung thư buồng trứng không có tính di truyền, tuy nhiên tiên lượng có vẻ tốt hơn. Hội chứng ung thư vú - buồng trứng gia đình thường ảnh hưởng tới người có liên quan phả hệ bậc 1 và 2. Hội chứng này thường gặp ở phụ nữ trẻ, bướu buồng trứng ở 2 bên. Ở những phụ nữ này, nguy cơ bị mắc ung thư buồng trứng tăng gấp 2 đến 4 lần so với cộng đồng. 

- Hội chứng Lynch II: Ung thư tuyến xảy ra ở nhiều cơ quan, hiện diện cùng lúc ở đại tràng, buồng trứng, nội mạc tử cung, vú và đường sinh dục. 

- Các nghiên cứu dịch tễ học cho thấy người bị ung thư vú có tần suất bị ung thư buồng trứng cao gấp 2 lần bình thường. Còn người bị ung thư buồng trứng có tần suất bị ung thư vú cao gấp 3, 4 lần.
Xem tiếp…

Những triệu chứng hiếm gặp do ung thư vú

09:02 |
Ung thư vú là căn bệnh thường gặp ở phụ nữ, nhất là những người từ 40 tuổi trở lên. Theo thống kê, chỉ có 10% số bệnh nhân bị ung thư vú dưới 40 tuổi, 25% ung thư vú xảy ra ở phụ nữ từ 40 tuổi trở lên đến 50 tuổi, 50% các trường hợp phát hiện ung thư vú từ 50 tuổi trở lên. 

Ung thư vú thường gặp ở nữ nhiều hơn nam, nhưng không phải nam giới sẽ không mắc bệnh ung thư vú. Tuy nhiên ung thư vú ở nam giới thường dễ phát hiện hơn so với phụ nữ. 



Hiện khoa học vẫn chưa xác định chính xác nguyên nhân nào gây ra bệnh ung thư vú nhưng có một số yếu tố nguy cơ ở phụ nữ làm tăng khả năng mắc ung thư vú như sinh con lần đầu muộn (sau tuổi 30), sử dụng thuốc nội tiết, phơi nhiễm bức xạ, mang gen BRCA1, béo phì.... 

Một trong những dấu hiệu chung, phổ biến nhất của bệnh ung thư vú là xuất hiện khối u, cục bất thường ở vú. Tuy nhiên nhiều bệnh nhân ung thư vú phát hiện ra mình mắc bệnh khi bệnh đã ở giai đoạn muộn do không sờ thấy khối u, hoặc không để ý đến sự thay đổi của cơ thể. 

Một số người có xuất hiện những triệu chứng nhưng không biết đó là dấu hiệu của ung thư vú bởi đó là những triệu chứng hiếm gặp và không điển hình của căn bệnh này. 

TS. Holly Pederson, Giám đốc khoa ung thư vú, Trung tâm y khoa Cleveland, Mỹ cho biết, có nhiều triệu chứng ít được nói tới của bệnh ung thư vú, nhưng nó là dấu hiệu hàng đầu của căn bệnh về tuyến vú. 

Không phải tất cả các triệu chứng ít được biết đến này đều là ung thư vú, nhiều khi nó chỉ là một khối u lành tính ở vú. Ông đã đưa ra một số dấu hiệu hiếm gặp của bệnh ung thư vú, bao gồm: 

Nhăn vú: Nếu một phụ nữ khi nâng cánh tay mình lên và nhìn vào gương, có thể thấy có nếp nhăn ở bất cứ vị trí nào trên ngực (vú), cần phải được kiểm tra y tế ngay. Nếu một khối u xuất hiện trong ngực, nó sẽ phá vỡ cấu trúc của da, tạo ra các nếp nhăn ở bên ngoài. Nếp nhăn này sẽ mất đi khi người bệnh đưa tay xuống. 

Núm vú tiết dịch: Thực tế là núm vú tiết dịch là dấu hiệu tương đối phổ biến. Thông thường nếu ép đầu vú, chảy ra dịch màu trắng, xanh hoặc nâu, trong hầu hết các trường hợp đều không phải là dấu hiệu của ung thư vú. Nhưng với những dấu hiệu này bạn cũng cần đi khám bác sĩ chuyên khoa. Nếu dịch từ núm vú chảy ra là màu đỏ như máu hoặc dịch trong, dấu hiệu này cực kỳ nguy hiểm bởi bạn có nguy cơ bị ung thư vú cao. 



Đau vú: Nếu một người phụ nữ trên 50 tuổi bị đau vú thì cần làm xét nghiệm ung thư vú. Đây là một triệu chứng hiếm gặp của ung thư vú bởi những người ở độ tuổi sau mãn kinh, dấu hiệu đau vú ít khi xuất hiện hơn, đặc biệt đau ở một vị trí nhất định. Đó là do sự phát triển của ung thư gây ra. 

Tróc ở vú, thay đổi màu sắc ở núm vú hoặc quầng vú: Nếu trên vú xuất hiện dấu hiệu bong tróc, kích thích ở núm vú hoặc quầng vú, người phụ nữ cần lưu ý để kiểm tra vú. Khi núm vú có màu đỏ hoặc tím bất thường, đó là do các tế bào ung thư xâm nhập vào khu vực núm vú làm biến đổi màu sắc ở núm vú hoặc quầng vú. 

Đốm đỏ trên ngực: Dấu hiệu đốm đỏ trên ngực thường dễ bị bỏ qua, TS Pederson cho biết. Vì đây có thể là biểu hiện của ung thư vú thể viêm. Đây là loại ung thư hiếm gặp nhưng tiến triển rất nhanh. Vú của người bệnh thường sưng, đỏ, đặc biệt là vùng da ở khu vực này thường dày lên. Tuy nhiên với những bệnh nhiễm trùng vú , vú cũng bị đỏ lên. 

Để phân biệt ung thư vú thể viêm với nhiễm trùng vú là các dấu hiệu của nhiễm trùng vú thường xảy ra đột ngột, sưng đau, đỏ vùng vú kèm theo sốt. Trong khi ung thư vú thể viêm lúc đầu thường nặng vùng vú, sau đó cảm giác da dày lên, cuối cùng sưng đỏ, diễn tiến của nó thường từ từ. 

Bất cứ triệu chứng điển hình (u, cục) hay không điển hình đã nói ở trên, người phụ nữ cần phải đi khám ngay để phát hiện sớm căn bệnh ung thư vú. Khám sức khỏe định kỳ là biện pháp tốt nhất phòng tránh mắc bệnh ung thư vú, nhất là với phụ nữ từ 40 tuổi trở lên, nên thăm khám vú ít nhất mỗi năm 1 lần ở các cơ sở y tế.
Xem tiếp…

Chữa trứng, thận trọng biến chứng ung thư nhau thai

08:41 |
Chửa trứng không còn là chuyện lạ đối với phụ nữ Việt Nam. Nhưng những tác hại của chửa trứng đối với sức khỏe sinh sản hay biến chứng thành ung thư nhau thai của chửa chứng thì không phải chị em nào cũng biết. 

Nhau thai có nhiệm vụ nuôi dưỡng bào thai trong thời kỳ thai nghén. Khi nhau thai sản sinh quá mức, phát triển thành khối không kiểm soát được sẽ được gọi là chửa trứng. Đa số trường hợp chửa trứng không có bào thai, gọi là “chửa trứng hoàn toàn”. Một số trường hợp có bào thai, nhưng không sống được gọi là “chửa trứng bán phần”. 



Tại sao gọi chửa trứng? 

Gọi là chửa trứng vì trong dạ con có nhiều nang trông như các quả trứng hoặc chùm nho. Đó là do các lông nhau thai sinh sôi và căng phồng. Cho đến nay, y học vẫn chưa tìm ra được chính xác nguyên nhân gây chửa trứng. Tuy nhiên, những nghiên cứu khoa học cho thấy có thể do sai sót của yếu tố di truyền trong quá trình thụ tinh đã dẫn đến những bất thường ở bộ nhiễm sắc thể. 

Khoảng 90% trường hợp thai trứng bắt nguồn từ người cha và 10% từ người mẹ. Nếu phụ nữ mang thai trên 35 tuổi, quá trình thụ tinh dễ gặp bất thường. Ngoài ra, những nguyên nhân như sai sót ở trứng, bất thường ở dạ con, thiếu các chất dinh dưỡng như đạm, acid folic... dễ có nguy cơ bị thai trứng toàn phần. 

Bình thường, chửa trứng không nguy hiểm, vì khoảng 80% chửa trứng là lành tính, bệnh khỏi sau khi nạo lấy hết nhau thai hoặc cắt dạ con ở người không có nhu cầu sinh đẻ nữa. Khoảng 10-15% chửa trứng trở thành loại xâm nhập, bệnh ăn sâu vào thành dạ con gây chảy máu và các tác hại nguy hiểm khác. 

Khoảng 2-3% chửa trứng trở thành ung thư nhau thai. Khi đã thành ung thư nhau thai, bệnh phát triển nhanh, lan rộng, di chuyển tới các nơi khác như phổi, não...

Biểu hiện của chữa trứng

Chửa trứng và ung thư nhau thai có những biểu hiện giống nhau và khá điển hình đó là: chảy máu âm đạo; ra dịch, các vật bất thường ở âm đạo; đau bụng dưới; nôn hoặc buồn nôn; chảy dịch đầu vú bất thường; bụng dưới to như có thai; bụng không nhỏ lại sau khi sinh. 

Nếu không điều trị sớm, bệnh nhân sẽ dễ bị khó thở, liệt, co giật. Vì thế khi có các biểu hiện kể trên, chị em nên đi khám chuyên khoa sản để xác định bệnh, từ đó có hướng điều trị phù hợp và kịp thời. 

Sau khi làm các xét nghiệm cần thiết, nếu đã xác định chắc chắn là chửa trứng, bệnh nhân sẽ được tư vấn cách điều trị. Nếu bệnh nhân chưa có con hoặc chưa sinh đủ con, bác sĩ sẽ nạo sạch trứng trong buồng tử cung. Với những phụ nữ đã sinh đủ con, tốt nhất là cắt buồng tử cung. 



Theo dõi sau nạo hút trứng 

Bệnh nhân chửa trứng lành tính phải làm xét nghiệm máu, nước tiểu 2 tuần/lần cho đến khi lượng HCG trở về bình thường. Khi HCG đã về mức cho phép, bệnh nhân vẫn phải tiếp tục thử nước tiểu 4 tuần/lần trong thời gian 6 tháng, cùng với việc làm các xét nghiệm khác và siêu âm nếu cần. 

Khi nào chửa trứng được biết là ác tính? 

Như đã nói, có khoảng 2-3% trường hợp chửa trứng ác tính, tức là ung thư nhau thai. Ung thư nhau thai chiếm tỷ lệ khá cao ở Việt Nam và nhiều quốc gia châu Á khác, khoảng 30/1.000 ca sinh và 2,6/1.000 ca có thai. 

Ung thư nhau thai có nguồn gốc từ sự đột biến gen của những tế bào nuôi, một thành phần trong số những tế bào chịu trách nhiệm hình thành các tổ chức có nhiệm vụ nuôi dưỡng bào thai (bánh nhau, cuống rốn...). Tuy nhiên, những nguyên nhân của sự đột biến vẫn chưa được rõ. 

Người ta ghi nhận ung thư nhau có thể xảy ra trong một lần mang thai và ở những phụ nữ có tiền căn sản khoa bất thường trước đó như: thai trứng (chiếm đến 50% các trường hợp ung thư nhau), sảy thai tự nhiên (khoảng 20%), thai ngoài tử cung (chỉ 2%)… Đa số các trường hợp ung thư nhau thai thường không có dấu hiệu báo trước đến khi bệnh bộc phát. 

Khi đã mắc bệnh, các triệu chứng thường gặp là: thai phụ có thể nôn nhiều và kéo dài. Bụng to hơn tuổi thai. Phần lớn, các trường hợp đều có dấu hiệu xuất huyết âm đạo (có thể ri rỉ hoặc ồ ạt). Đau bụng từng cơn hoặc liên tục. Đau ngực, khó thở, ho ra máu... nếu đã có di căn phổi. Có triệu chứng thần kinh nếu có di căn não. 

Khi bệnh nhân có nghi ngờ bị ung thư nhau thai, cần làm một số khảo sát và xét nghiệm cận lâm sàng để hỗ trợ thêm cho việc chẩn đoán như: sự tăng cao bất thường của nồng độ beta HCG trong máu và trong nước tiểu. 

Siêu âm bụng sẽ giúp xác nhận tình trạng không có thai trong tử cung và cho phép các bác sĩ tiến hành nạo lòng tử cung để sinh thiết. Ngoài ra, qua siêu âm, bác sĩ có thể phát hiện các di căn ở gan. Chụp Xquang phổi cũng cần để giúp phát hiện các di căn phổi nếu có. 

Điều trị biến chứng ung thư nhau thai 

Tuy nguy hiểm nhưng ung thư nhau lại là một trong những loại ung thư nhạy với hóa trị. Nếu chưa bị di căn, bệnh có thể chữa khỏi hoàn toàn. Hiện nay, phương pháp điều trị chủ yếu là hóa trị và phẫu thuật, trong đó, hóa trị đóng vai trò tiên quyết trong việc điều trị ung thư nhau. 

Sau khi đã hóa trị và đạt được kết quả tốt, tùy từng trường hợp cụ thể, bác sĩ sẽ chỉ định phẫu thuật cắt bỏ buồng tử cung và hai buồng trứng hoặc cân nhắc khả năng phẫu thuật bảo tồn. 

Sau phẫu thuật, bệnh nhân cần đi khám lại, thử máu, nước tiểu định kỳ theo chỉ dẫn của thầy thuốc. Với những người có nguyện vọng sinh con, ngoài tuân thủ chung, bệnh nhân cần có biện pháp tránh thai ngay sau chữa bệnh và chỉ có thai sau 1 năm từ ngày chữa bệnh. 

Bệnh nhân điều trị ung thư nhau thai thành công, khi mang thai lại cần được theo dõi chặt chẽ để phát hiện, điều trị kịp thời các biến chứng ác tính sau đó. 


BS.Bằng Linh
Xem tiếp…

Nguy cơ ung thư buồng trứng có liên quan tiền sử gia đình

11:10 |
Các nghiên cứu cho thấy tỷ lệ mắc ung thư buồng trứng cao hơn với phụ nữ trong gia đình có người mắc bệnh, chị em bị rối loạn chức năng buồng trứng bao gồm vô sinh, không có con và sảy thai nhiều lần. 

Bác sĩ See Hui Ti, chuyên gia ung thư thuộc Trung tâm Ung thư Parkway Singapore, cho biết ung thư buồng trứng được xem là “kẻ giết người thầm lặng” đối với phụ nữ. Các triệu chứng thường không rõ ràng và chỉ xuất hiện ở giai đoạn muộn. 




Khoảng 1/3 số trường hợp được chẩn đoán khi bệnh đã quá muộn cho việc phẫu thuật. Hiện nay có những tiến bộ vượt bậc về thuốc điều trị, song các chuyên gia vẫn khuyến cáo chị em cần lưu ý phát hiện sớm ung thư buồng trứng mới mong điều trị đạt hiệu quả cao. 

Các nghiên cứu dịch tễ cho thấy tỷ lệ mắc ung thư buồng trứng cao hơn ở nhóm phụ nữ sinh ra trong gia đình có người từng bị bệnh này, ở các quốc gia đã công nghiệp hóa và chị em có rối loạn chức năng buồng trứng bao gồm vô sinh, không có con và sảy thai nhiều lần. 

Ung thư buồng trứng phổ biến đối với phụ nữ sau khi mãn kinh, bệnh cũng có thể xảy ra ở bé gái độ tuổi 12. Y văn ghi nhận hơn 80% trường hợp mắc bệnh mà không có bệnh sử gia đình. Với chị em sinh ra trong gia đình có người bị ung thư buồng trứng, nguy cơ mắc bệnh này có thể cao gấp từ 3 đến 10 lần so với bình thường. 

Những dấu hiệu thường gặp của ung thư buồng trứng là đầy bụng, phù chân, sụt cân, táo bón hoặc đau bụng kéo dài..., dễ bị nhầm lẫn với các bệnh cảnh thông thường nên chị em dễ bỏ qua. 

Bác sĩ See nhớ một trường hợp nữ bệnh nhân 42 tuổi. Ban đầu chị cảm thấy vùng bụng hơi khó chịu nhưng nghĩ do nhiễm trùng đường tiểu nên không chú ý để kiểm tra. Ít lâu sau xuất hiện những cơn vọp bẻ, mệt mỏi, đổ mồ hôi, chị mới đi khám. 

Bác sĩ phụ khoa siêu âm phát hiện một khối u 10 cm ở buồng trứng bên phải bệnh nhân và các phương tiện chẩn đoán sau đó cho thấy khối u ung thư, cần phẫu thuật. Bác sĩ See cho biết có nhiều phương pháp điều trị cho từng loại ung thư buồng trứng khác nhau, nhìn chung đa số bệnh nhân cần được phẫu thuật rộng. 

Sau phẫu thuật, 90% bệnh nhân cần hóa trị thêm. Trường hợp nữ bệnh nhân trên, sau khi được phẫu thuật lấy khối u, chị đã trải qua 6 chu kỳ hóa trị trong 3 tháng. Kết quả chụp PET kiểm tra sau đó xác định bệnh của chị đã thuyên giảm rõ rệt. 

"Phương pháp điều trị ung thư buồng trứng có nhiều tiến bộ trong hơn một thập kỷ qua. Cách đây 10 năm bệnh nhân ung thư buồng trứng giai đoạn muộn chỉ có từ 5 đến 10% cơ hội sống sót trong vòng 5 năm. Ngày nay, tỷ lệ này đã được nâng lên từ 40 đến 50%", bác sĩ chia sẻ.
Xem tiếp…

8 Nguyên nhân làm tăng nguy cơ ung thư vú

09:03 |
Số liệu thống kê cho thấy cứ 8 phụ nữ thì có 1 người mắc ung thư vú. Tuy nhiên có đến 75% số trường hợp ung thư vú ở phụ nữ không biết yếu tố nguy cơ. Nguy cơ mắc ung thư vú của mỗi người là khác nhau. 

Dưới đây là 8 yếu tố nguy cơ mà bạn cần lưu tâm khi đánh giá khả năng mắc căn bệnh này.



1. Tiền căn gia đình 

Dù bạn không mang gen biến đổi gây ung thư vú nhưng nếu những người trong gia đình thuộc mối quan hệ huyết thống như mẹ, chị gái, con gái mắc ung thư vú thì khả năng mắc bệnh bạn sẽ cao gấp 2 lần. Do đó, hãy tìm hiểu về tiền căn gia đình và đi khám bác sĩ để được tiến hành các xét nghiệm, chẩn đoán cần thiết.

2. Di truyền 

Những phụ nữ mang gen BRCA1 hay BRCA2 có nguy cơ mắc ung thư vú cao hơn đáng kể so với những người không mang gen này. Các nhà nghiên cứu còn phát hiện thấy với phụ nữ dưới 40, biến thể gen PALB2 có nguy cơ ung thư vú cao hơn 8-9 lần. 

3. Độc tố trong môi trường 

Các bằng chứng liên tiếp cho thấy việc tiếp xúc với các độc tố gây rối loạn nội tiết ví dụ như bisphenol A (BPA), một loại nhựa dùng để làm can nhựa, hộp nhựa và các chất bảo quản Phthalates trong mỹ phẩm,...có thể làm tăng nguy cơ mắc ung thư vú. Các hóa chất tổng hợp tích tụ trong tế bào mỡ này khiến khối u phát triển.

4. Cân nặng 

Quá cân hay béo phì có thể làm tăng nguy cơ mắc ung thư vú 30-60%. Cơ thể chứa càng nhiều mỡ thì lượng estrogen càng nhiều vì estrogen được sản sinh trong tế bào mỡ. Estrogen thừa này sẽ nuôi sống các tế bào ung thư vú. 

5. Kích thước vòng eo

Một nghiên cứu từ Tạp chí Y học Anh xác định yếu tố quan trọng nhất làm tăng nguy cơ ung thư vú trong giai đoạn tiền mãn kinh của phụ nữ là kích thước vòng eo có tăng không và tăng bao nhiêu so với những năm 20 tuổi.

6. Chế độ tập luyện thể dục 

Hoạt động thể chất thường xuyên có thể làm giảm nguy cơ mắc ung thư vú. Đây giống như một chất chống viêm tự nhiên và giúp tăng cường miễn dịch. Bên cạnh đó, tập thể dục làm giảm lượng glucose và nồng độ insulin trong máu, giúp phá vỡ estrogen để ngăn ngừa ung thư. 

Nghiên cứu còn phát hiện ra tập thể dục đem lại nhiều lợi ích ngừa ung thư cho phụ nữ mang gen đột biến BRCA. 

7. Thói quen uống rượu bia 

Rất nhiều nghiên cứu cho thấy uống rượu bia liên quan đến nguy cơ mắc ung thư vú cao. Đặc biệt, uống rượu bia trong kỳ kinh nguyệt đầu tiên và lần mang thai đầu sẽ làm tăng nguy cơ mắc căn bệnh nguy hiểm này. 

8. Chế độ ăn uống 

Các chuyên gia nói rằng việc giảm tiêu thụ thịt đỏ và tăng cường ăn rau quả có thể làm giảm sự phát triển của tế bào ung thư. Các loại rau họ cải như cải bruxen và súp lơ giúp giảm viêm và cân bằng estrogen. 

Thực phẩm màu cam đỏ như cà rốt, cà chua... chứa nhiều carotenoid – một chất chống ô-xy hóa làm giảm nguy cơ ung thư vú. Ngoài ra, bạn cần giảm lượng đường và sản phẩm sữa béo để cơ thể được khỏe mạnh hơn, ngăn ngừa ung thư. 

Xem tiếp…

Virus HPV và những yếu tố tăng nguy cơ ung thư cổ tử cung

21:00 |
95% trường hợp ung thư cổ tử cung do virus HPV. Phụ nữ hút thuốc nguy cơ mắc bệnh gấp 2 lần. Uống thuốc ngừa thai trong một thời gian dài làm tăng nguy cơ. Ung thư cổ tử cung là loại ung thư phụ khoa hay gặp nhất và đứng hàng thứ 4 trong các loại ung thư ở phụ nữ. 

Cổ tử cung là ngõ vào của tử cung, là nơi nối giữa tử cung và âm đạo. Ung thư cổ tử cung tuy hay gặp nhưng dễ dàng phát hiện sớm bằng xét nghiệm tầm soát và có thể phòng ngừa chủ động được. 

Ung thư cổ tử cung nếu được phát hiện sớm ở giai đoạn đầu, khi ung thư chỉ khu trú chưa xâm lấn thì tỷ lệ chữa khỏi gần như hoàn toàn. 

Tuy nhiên, nếu để ung thư tiến triển qua giai đoạn trễ thì tỷ lệ chữa khỏi thấp hơn rất nhiều. Việc phòng ngừa, tầm soát, phát hiện sớm ung thư cổ tử cung rất quan trọng và vô cùng cần thiết. 

Nguyên nhân và yếu tố nguy cơ gây ung thư cổ tử cung 

Nhiễm virus HPV (Human Papilloma Virus) 

HPV có thể lây lan từ người này sang người khác khi tiếp xúc da với da. HPV lây truyền qua quan hệ tình dục, bao gồm cả âm đạo, hậu môn và thậm chí quan hệ tình dục bằng miệng. Có hai loại HPV: 

- HPV nguy cơ thấp: Nổi bật là 2 tuýp HPV 6 và HPV 1, gây ra hầu hết các trường hợp mụn cóc sinh dục, không liên quan đến ung thư cổ tử cung. 

- HPV nguy cơ cao: Nổi bật là HPV 16, HPV 18, HPV 31, HPV 33 và HPV 45. Trong đó HPV 16 và HPV 18 là thủ phạm gây ra 70% trường hợp ung thư cổ tử cung, 30% còn lại là do các tuýp khác. Ngoài ra, HPV loại nguy cơ cao cũng là nguyên nhân gây ung thư âm đạo, ung thư âm hộ, ung thư hậu môn, ung thư dương vật, ung thư miệng họng. 



Vài năm sau khi bắt đầu sinh hoạt tình dục, người phụ nữ có khả năng nhiễm HPV và nguy cơ mắc bệnh tăng theo số bạn tình trong đời. Phần lớn, cơ thể con người có miễn dịch tạo ra kháng thể để tiêu diệt virus. 

Tuy nhiên, một số trường hợp người phụ nữ không diệt được siêu vi trùng và bị nhiễm dần nặng lên. Sau vài năm, ADN của virus chui vào được DNA của tế bào người, làm tế bào cổ tử cung sinh sôi nảy nở không ngừng gây ung thư cổ tử cung. 

Vì vậy, những người có yếu tố nguy cơ cao bị ung thư cổ tử cung đồng nghĩa với những người có nguy cơ cao bị nhiễm HPV. Đó là những người quan hệ tình dục sớm, nhiều bạn tình, người mắc các bệnh lây lan qua đường tình dục. Không phải ai bị HPV cũng sẽ bị ung thư cổ tử cung. Nhưng ngược lại, có đến 95% các trường hợp ung thư cổ tử cung phát hiện thấy virus HPV. 

Bao cao su có thể bảo vệ trước hầu hết các bệnh lây truyền qua đường tình dục bao gồm cả HIV/AIDS, nhưng lại không hoàn toàn chống lại được HPV. Bởi vì virus HPV có thể lây truyền trực tiếp thông qua tiếp xúc tại vùng da không được bao phủ bởi bao cao su. 

Hút thuốc 

Phụ nữ hút thuốc có nguy cơ mắc ung thư cổ tử cung gấp 2 lần người không hút thuốc lá. Những chất có hại được hấp thu qua phổi và có theo dòng máu đi khắp cơ thể. Những chất này góp phần gây tổn hại ADN của tế bào cổ tử cung và có thể đóng góp vào sự phát triển của ung thư cổ tử cung. Hút thuốc cũng làm cho hệ thống miễn dịch kém hiệu quả trong việc chống nhiễm trùng HPV. 

Ức chế miễn dịch 

Virus suy giảm miễn dịch ở người (HIV), virus gây ra bệnh AIDS, tổn thương hệ thống miễn dịch và đặt phụ nữ có nguy cơ cao lây nhiễm HPV. Điều này có thể một phần giải thích sự gia tăng nguy cơ ung thư cổ tử cung ở phụ nữ bị AIDS. Ngoài ra, hệ thống miễn dịch còn quan trọng trong việc tiêu diệt các tế bào ung thư. 

Một nhóm phụ nữ khác có nguy cơ ung thư cổ tử cung như những người dùng thuốc nhằm ức chế miễn dịch của họ như những người đang điều trị cho một bệnh tự miễn hoặc những người cấy ghép nội tạng. 

Thừa cân 

Phụ nữ thừa cân có nhiều khả năng phát triển ung thư tuyến cổ tử cung. 

Sử dụng lâu dài thuốc tránh thai 

Có nghiên cứu cho rằng uống thuốc ngừa thai trong một thời gian dài làm tăng nguy cơ ung thư cổ tử cung. 

Tiền sử gia đình có người ung thư cổ tử cung. 



Các dấu hiệu và triệu chứng của ung thư cổ tử cung 

Phụ nữ bị ung thư cổ tử cung sớm và tiền ung thư thường không có triệu chứng. Triệu chứng sẽ xuất hiện trong giai đoạn muộn, khi đó ung thư đã xâm lấn. Khi điều này xảy ra, các triệu chứng phổ biến nhất là: 

- Chảy máu âm đạo bất thường, chẳng hạn như chảy máu sau khi quan hệ tình dục, chảy máu khi mãn kinh, chảy máu giữa chu kỳ kinh nguyệt, chảy máu sau khi thụt rửa hoặc sau khi khám phụ khoa. 

- Đau khi quan hệ tình dục. 

- Đau lưng. 

- Đi tiểu bị đau hoặc tiểu khó khăn và nước tiểu đục. 

- Rò rỉ nước tiểu hoặc chất cặn hôi từ âm đạo. 

Tầm soát phát hiện sớm ung thư cổ tử cung 

Nếu được phát hiện sớm, ung thư cổ tử cung là một trong những bệnh ung thư có thể điều trị thành công nhất. Nếu ung thư cổ tử cung ở giai đoạn sớm, khu trú tại chỗ tỷ lệ điều trị thành công 93%. Tuy nhiên, khi ung thư phát hiện ở giai đoạn trễ thì tỷ lệ trị khỏi chỉ 15%. 

Tầm soát phát hiện sớm ung thư cổ tử cung bằng xét nghiệm PAP. Xét nghiệm PAP (phết tế bào cổ tử cung) là một xét nghiệm tế bào học để tìm những tế bào bất thường trong lớp biểu mô cổ tử cung. 

Nếu xét nghiệm PAP có kết quả bất thường thì bác sĩ sẽ khám kỹ hơn: Soi cổ tử cung (giúp xác định vị trí, mức độ lan tỏa của tổn thương, đồng thời hướng dẫn cho sinh thiết cổ tử cung) và sinh thiết cổ tử cung (cắt mẫu mô của cổ tử cung để quan sát dưới kính hiển vi, cho kết quả rất chính xác). 

Nếu tầm soát định kỳ, sau khi sinh thiết có thể phát hiện ung thư ở giai đoạn sớm và khả năng chữa khỏi rất cao. Phụ nữ đã có quan hệ tình dục nên được phết tế bào cổ tử cung và khám phụ khoa mỗi năm một lần. Sau 3 lần liên tiếp với kết quả bình thường thì khoảng thời gian làm lại có thể thưa ra khoảng 2-3 năm một lần cho đến lúc 60 tuổi. 

Chủng ngừa phòng chống ung thư cổ tử cung 

Ung thư cổ tử cung do nhiều tuýp HPV gây ra, trong đó 70% trường hợp là HPV 16 và 18. Văcxin chủng ngừa ung thư cổ tử cung chỉ có hiệu quả với HPV 16 và 18, tức là phòng ngừa được 70% trường hợp. Còn 30% trường hợp ung thư cổ tử cung còn lại do các tuýp HPV khác thì chưa có văcxin phòng ngừa. Do đó, dù cho được tiêm văcxin cũng phải khám phụ khoa và làm xét nghiệm PAP định kỳ. 

Thuốc chích vào 3 kỳ trong sáu tháng, kỳ thứ hai cách thứ nhất 2 tháng, kỳ thứ ba cách thứ hai 4 tháng. Các loại văcxin chỉ có tác dụng ngăn ngừa nhiễm HPV chứ không điều trị tình trạng đã nhiễm HPV. Đó là lý do tại sao để có hiệu quả nhất, các loại văcxin HPV sẽ được tiêm trước khi một người phụ nữ bị nhiễm với HPV, tức trước khi có hoạt động tình dục trong đời. 


Bác sĩ Lê Nguyễn Khánh Duy
Xem tiếp…

Cắt buồng trứng ngừa ung thư, lợi ích và nguy cơ cần biết

20:15 |
Những phụ nữ có nguy cơ cao bị ung thư vú và buồng trứng - như trường hợp của Angelina Jolie - đôi khi chọn cách phẫu thuật cắt buồng trứng dự phòng để giảm nguy cơ ung thư. Vậy loại phẫu thuật này mang lại những lợi ích và nguy cơ gì? 

Phẫu thuật cắt buồng trứng dự phòng là phẫu thuật để cắt bỏ cả hai buồng trứng và thường kèm theo cả ống dẫn trứng. Buồng trứng là cơ quan sản sinh trứng và cũng là nguồn hoóc-môn estrogen và progesterone chính của cơ thể. 



Ống dẫn trứng là nơi nối giữa buồng trứng với tử cung. Với những phụ nữ bị xem là có “nguy cơ cao” bị ung thư vú và buồng trứng, cắt buồng trứng dự phòng là một chiến lược có thể nghĩ đến để giảm nguy cơ bị bệnh. 

Có “nguy cơ cao” đồng nghĩa với việc người phụ nữ đó có xét nghiệm dương tính với bất thường ở gen BRCA1 hoặc BRCA2, cũng có nghĩa là có tiền sử gia đình bị ung thư vú, ung thư buồng trứng, hoặc cả hai rất rõ. 

Những lợi ích của phẫu thuật cắt buồng trứng dự phòng 

Giảm nguy cơ ung thư vú: Nhiều nghiên cứu cho thấy cắt buồng trứng dự phòng làm giảm nguy cơ ung thư vú ở phụ nữ nguy cơ cao. Theo Viện Ung thư Quốc gia Mỹ, phẫu thuật này sẽ làm giảm 50% số ca mắc mới ung thư vú ở phụ nữ nguy cơ cao. Lợi ích này chỉ có được nếu việc phẫu thuật được tiến hành trước khi mãn kinh. 

Cắt buồng trứng trước khi mãn kinh làm giảm đáng kể lượng estrogen trong cơ thể người phụ nữ. Do một số ung thư vú cần estrogen để phát triển, nên việc cắt bỏ buồng trứng có thể làm chậm hoặc thậm chí làm ngừng tiến triển của các tế bào ung thư vú. 

Một nghiên cứu năm 2008 cho thấy mức giảm nguy cơ ung thư vú sau khi cắt buồng trứng còn cao hơn ở những phụ nữ mang đột biến gen BRCA2. 

Giảm nguy cơ ung thư buồng trứng: Dù thực hiện trước hay sau khi mãn kinh, phẫu thuật cắt buồng trứng dự phòng có thể làm giảm 90% nguy cơ ung thư buồng trứng ở những phụ nữ nguy cơ cao. 

Đây là một lợi ích quan trọng vì hiện chưa có xét nghiệm tầm soát nào đáng tin cậy đối với ung thư buồng trứng. Việc phát hiện sớm ung thư buồng trứng là rất khó khăn. Vì lý do này, chẩn đoán thường chỉ có được khi ung thư đã ở giai đoạn muộn và khó điều trị. 

Một nghiên cứu năm 2008 cho thấy mức giảm nguy cơ ung thư buồng trứng sau mổ cắt buồng trứng là lớn hơn ở phụ nữ mang đột biến gen BRCA1. 



Các nguy cơ 

Giống như mọi phẫu thuật khác, mổ cắt buồng trứng dự phòng có một số nguy cơ. Đối với phụ nữ chưa mãn kinh, nó khiến cơ thể bị mất kinh, có thể gây ra những triệu chứng khó chịu và những tác dụng phụ khác. Tác động sức khỏe lâu dài của mất kinh do phẫu thuật cũng chưa được nghiên cứu đầy đủ. 

Nguy cơ ngay sau mổ: có thể gồm 

- Chảy máu hoặc nhiễm trùng 

- Sẹo, nhất là nếu mổ mở (thay vì mổ nội soi). Mô sẹo có thể đau. 

- Tắc ruột và/hoặc tổn thương các cơ quan bên trong, mặc dù hiếm gặp 

Nguy cơ trước mắt: 

Những tác dụng phụ sau đây có thể xảy ra trong vài ngày hoặc vài tuần sau mổ: 

- Đau do vết mổ hoặc do bơm khí vào khoảng ổ bụng để mổ nội soi 

- Mệt mỏi trong 3-4 tuần sau mổ nội soi và có thể tới 6 tuần nếu phẫu thuật có đường mổ ở bụng lớn hơn 

- Thay đổi ở hệ tiêu hóa, bao gồm chán ăn, ít đi ngoài và cần ăn nhiều bữa nhỏ 

 - Bắt đầu các triệu chứng mãn kinh liên quan tới mất estrogen, như bốc hỏa, mệt mỏi, thay đổi tâm trạng, khô và kích ứng âm đạo. Những triệu chứng này thường mạnh hơn đối với những người chưa bắt đầu mãn kinh tự nhiên. 

Nguy cơ lâu dài 

- Mổ cắt buồng trứng dự phòng là vĩnh viễn và không thể khôi phục lại được. 

- Phụ nữ mổ cắt buồng trứng dự phòng không thể có con được nữa.

- Phụ nữ chưa mãn kinh thường bị mãn kinh do phẫu thuật, làm tăng nguy cơ loãng xương và các triệu chứng khó chịu của mãn kinh, bao gồm bốc hỏa/đổ mồ hôi trộm, khô và kích ứng âm đạo, và giảm ham muốn. 

- Sau phẫu thuật, một số phụ nữ bị trầm cảm hoặc lo âu về việc mất khả năng sinh đẻ, cũng như những tác dụng phụ khác như giảm ham muốn và khô âm đạo. Tất cả những điều này có thể ảnh hưởng đến quan hệ vợ chồng. 

- Có những ý kiến trái ngược nhau về việc liệu có nên dùng liệu pháp thay thế hoóc môn (HRT) sau mổ cắt buồng trứng hay không. HRT có thể làm giảm các triệu chứng mãn kinh và mang lại những lợi ích sức khỏe khác cho phụ nữ trẻ. 

Nghiên cứu cho thấy HRT ngắn ngày là an toàn cho những phụ nữ cần giảm những tác động tức thì của mất kinh do phẫu thuật. Tuy nhiên, cá nhân các bác sĩ có những quan điểm khác nhau về việc này. Việc đưa ra quyết định về HRT có thể khiến một số phụ nữ cảm thấy bối rối và lo lắng. 

- Mặc dù cắt buồng trứng sự phòng làm giảm đáng kể nguy cơ ung thư buồng trứng, song nó không thể loại bỏ hoàn toàn nguy cơ bị một bệnh tương tự ung thư buồng trứng gọi là ung thư phúc mạc tiên phát. Đây là loại ung thư bắt nguồn ở phúc mạc – lớp mô bao phủ buồng trứng và tiểu khung. 



Ung thư phúc mạc có đặc điểm rất giống với ung thư buồng trứng, và cũng rất khó phát hiện sớm. 

Những triệu chứng khác có thể gặp phải sau phẫu thuật cắt buồng trứng dự phòng:

- Đau cơ và khớp 
- Đau ngực/đánh trống ngực 
- Co thắt cơ (chuột rút) 
- Khó ngủ 
- Nhiễm trùng đường tiết niệu và nhiễm nấm tái phát 
- Tiểu không tự chủ 
- Những tác động về cảm xúc như lo âu, trầm cảm và thay đổi tâm trạng 

Cắt buồng trứng sự phòng có thể có những nguy cơ lâu dài khác mà chưa biết. Các bác sĩ còn chưa hiểu hết tác động của mất estrogen đến sức khỏe tim, chức năng tâm thần, trí nhớ và những khía cạnh khác của cuộc sống người phụ nữ. 

Nghiên cứu năm 2006 của Bệnh viện Mayo Clinic (Mỹ) trên hơn 2.500 phụ nữ thấy rằng những người dưới 45 tuổi đã cắt buồng trứng mà không dùng liệu pháp thay thế ho óc môn bị tăng nguy cơ tử vong do một số bệnh khi về già. 

Những phụ nữ này cũng tăng nguy cơ sa sút trí tuệ và những thay đổi khác trong chức năng tâm thần. Cho đến khi các bác sĩ biết rõ thêm về tác động của cắt buồng trứng đối với sức khỏe lâu dài ở phụ nữ trẻ, thì mỗi người cần làm việc với chính bác sĩ của mình để cân nhắc về những nguy cơ và lợi ích của phẫu thuật này. 

Với những người có nguy cơ cao bị ung thư vú và buồng tgrwngs, điều quan trọng là phải bàn bạc về mọi lựa chọn để giảm nguy cơ với bác sĩ và người thân. Cũng cần tham khảo những ý kiến khác về việc liệu mổ cắt buồng trứng dự phòng có phải là chiến lược hiệu quả toàn diện hay không– cả về bệnh và về chất lượng sống.

Theo skds
Xem tiếp…

Dấu hiệu cảnh báo ung thư âm đạo ở nữ

20:15 |
Âm đạo là ống cơ nối tử cung với bộ phận sinh dục ngoài. Ung thư âm đạo là bệnh ung thư hiếm gặp, hình thành trong các tế bào âm đạo của phụ nữ. Ung thư âm đạo giai sớm có thể không có biểu hiện nào.

Các triệu chứng bắt đầu xuất hiện khi bệnh tiến triển. Do đó phụ nữ nên khám phụ khoa định kỳ để phát hiện sớm và điều trị kịp thời. 



Các triệu chứng ung thư âm đạo 

Chảy máu âm đạo bất thường: Chảy máu âm đạo bất thường sau khi quan hệ tình dục hoặc ở những phụ nữ đã mãn kinh là triệu chứng đầu tiên và thường gặp nhất của bệnh ung thư âm đạo. Tuy nhiên, đây cũng có thể là triệu chứng của các bệnh phụ khoa khác.

Tiết dịch âm đạo: Tiết dịch âm đạo là tình trạng khá phổ biến ở phụ nữ. Tuy nhiên, nếu dịch âm đạo bất thường, có mùi khó chịu hoặc có màu máu, lẫn với với vết máu thì cần cảnh giác đi khám ngay vì đó có thể là triệu chứng của ung thư âm đạo. 

Tiểu khó, tiểu lẫn máu: Cảm thấy đau khi đi tiểu hoặc tiểu có lẫn máu cũng là dấu hiệu nghi ngờ cần đi khám. Mặc dù bằng mắt thường đôi khi rất khó để phát hiện nước tiểu có lẫn máu nhưng chị em nên quan sát kỹ khi nước tiểu có màu đỏ sậm hoặc có vệt máu ở đáy quần lót. 

Rối loạn tiêu hóa: Đây không phải là dấu hiệu đặc trưng của ung thư âm đạo bởi các bệnh khác như ung thư dạ dày, đại tràng cũng có biểu hiện này. Tuy nhiên, khi ung thư âm đạo tiến triển, phụ nữ có thể bị táo bón mạn tính, phân đen mùi khó chịu. 

Đau vùng chậu: Triệu chứng này thường xuất hiện khi ung thư âm đạo đã bắt đầu lây lan. Đau vùng chậu có thể là đau hay cảm thấy áp lực và tức ở vùng bụng dưới rốn. Bạn có thể cảm thấy đau liên tục hoặc thi thoảng mới đau. Nhiều phụ nữ bị đau vùng chậu mô một cách âm ỉ, có lúc đau quặn lên. 

Cần đi khám và điều trị sớm 

Ung thư âm đạo nếu được phát hiện sớm sẽ có hiệu quả điều trị tốt. Nếu để tiến triển ở giai đoạn muộn, việc điều trị sẽ khó khăn hơn rất nhiều. Do đó, nếu có bất kỳ dấu hiệu và triệu chứng nghi ngờ ung thư âm đạo, người bệnh cần đến cơ sở y tế chuyên khoa để khám và điều trị kịp thời. 

Ngoài ra, phụ nữ nên đi khám phụ khoa và làm xét nghiệm tế bào âm đạo định kỳ để sàng lọc và điều trị ngay khi phát hiện tế bào bất thường, điều trị ngay trong giai đoạn đầu để tránh gây ra tổn hại lớn hơn. 


Bác sĩ Thu Lan
Xem tiếp…

Ung thư cổ tử cung, phần lớn do tình dục không an toàn

09:15 |

Ung thư cổ tử cung (UTCTC) đang trở thành nỗi khiếp sợ với phụ nữ khi tần suất mắc trong độ tuổi sinh đẻ lên đến 17%. Tuy nhiên, các chuyên gia trấn an rằng, có một sự hiểu nhầm nhất định về căn bệnh này bởi không phải ai nhiễm virus HPV là sẽ mắc bệnh.

80% phụ nữ có nguy cơ nhiễm

PGS.TS Nguyễn Trần Hiển, Viện trưởng Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương cho biết, theo thống kê ở nước ta hiện nay, mỗi năm có khoảng 5.170 ca mắc UTCTC mới, gần 2.500 ca UTCTC tử vong, tần suất mắc trong dân số là 11,4/ 100.000 dân. Đây được coi là nguyên nhân tử vong hàng đầu ở phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ với bình quân 10 ca tử vong mỗi ngày do căn bệnh này. 



Nguyên nhân dẫn đến UTCTC là do virus HPV gây ra, trong khi tỷ lệ nhiễm virus HPV ở phụ nữ nước ta rất cao. Cụ thể, phụ nữ từ 40-49 tuổi, tỷ lệ nhiễm HPV lên đến 43%, phụ nữ nhóm 30-39 tuổi có tỷ lệ nhiễm là 24%, nhóm 18-29 tuổi cũng có tỷ lệ nhiễm là 11%. Điều khó khăn nhất là virus này khi xâm nhập vào tế bào cơ thể rất khó phát hiện, cơ thể cũng không tự sinh ra được kháng thể đáp ứng chuyên biệt để chống chọi nên khó cứu chữa.

Ông Hiển nhấn mạnh, hiện đang có một số cách hiểu chưa đúng về HPV, khiến dư luận, nhất là giới phụ nữ hoang mang. Rất nhiều người nghĩ rằng cứ nhiễm HPV sẽ mắc UTCTC hay đã được tầm soát, xét nghiệp PAP ở bệnh viện cho thấy nhiễm HPV là đã mắc bệnh. Thực tế, độ chính xác của biện pháp tầm soát bằng xét nghiệm nhanh PAP không cao, chỉ khoảng 50-60% cho nên người đã được xét nghiệm dương tính với virus này cũng chưa thể khẳng định ngay được.

Tình dục càng nhiều càng dễ mắc

Một nghiên cứu thú vị là UTCTC có liên quan mật thiết với độ tuổi, mức độ quan hệ tình dục. Thực tế khoảng 80% người trong độ tuổi sinh sản (15-49 tuổi) có nguy cơ nhiễm HPV ở một thời điểm nào đó. Nguyên nhân là do virus HPV lây truyền chủ yếu qua đường tình dục, thâm nhập qua các vết trầy xước, vết loét dù rất nhỏ. Ngoài ra, HPV cũng có thể lây từ mẹ sang con hoặc lây qua các vật truyền như đồ lót, găng phẫu thuật… nhưng tỷ lệ ít hơn.

Ths.BS Lê Thị Kiều Dung, ĐH Y dược TP. Hồ Chí Minh cho biết, nguy cơ mắc UTCTC cao đến đâu còn phụ thuộc vào số lượng bạn tình, tần số giao hợp, vệ sinh bộ phận sinh dục, số con… của người phụ nữ. Do đó, quan hệ tình dục càng sớm, càng nhiều thì nguy cơ mắc UTCTC càng cao.

TS.BS Cao Hữu Nghĩa, Viện Pasteur TP Hồ Chí Minh cho biết thêm, đường lây chính của UTCTC là nhiễm qua tiếp xúc da, niêm mạc dương vật với niêm mạc cổ tử cung, âm đạo chứ không qua đường máu hoặc qua các dịch khác của cơ thể (tinh dịch, dịch âm đạo...).

Nam cũng như nữ đều có khả năng bị HPV tấn công. Riêng ở nữ giới, nguy cơ nhiễm cao nhất là ở thời điểm bắt đầu có quan hệ tình dục và nhiều trường hợp nhiễm dai dẳng ở cổ tử cung tiến triển thành các tổn thương tiền UTCTC.

PGS.TS Nguyễn Trần Hiển cho biết, UTCTC là loại ung thư có thể phòng tránh được và biện pháp phòng chống hữu hiệu nhất là vaccine. Ở nước ta, vaccine ngừa UTCTC đã được Bộ Y tế cấp phép sử dụng từ năm 2008 với chỉ định ngăn ngừa UTCTC cho trẻ em gái và phụ nữ từ 9 đến 26 tuổi.

Vaccine này chỉ đạt hiệu quả cao nhất khi phụ nữ chưa có quan hệ tình dục. Cũng như các loại vaccine khác, việc tiêm vaccine phòng ngừa nhiễm HPV không có hiệu quả phòng bệnh 100%. Trong khi đó, các biện pháp tầm soát ung thư vẫn được duy trì nhưng hiệu quả chưa cao do các phòng xét nghiệm chưa đồng bộ. Còn biện pháp phòng bệnh thụ động nhất là… không quan hệ tình dục thì khó khả thi.
Xem tiếp…

Phát hiện và chuẩn đoán ung thư buồng trứng

04:28 |
Mặc dù có nhiều tiến bộ đáng kể về chẩn đoán và điều trị ung thư buồng trứng, nhưng kết quả cũng chỉ đạt 40 - 50% người bệnh ung thư buồng trứng sống thêm 5 năm sau điều trị. 

Ung thư buồng trứng là một dạng ung thư xấu 

Ung thư (UT) buồng trứng (BT) chiếm 4% các UT ở nữ giới, đứng thứ 3 sau UT cổ tử cung và UT vú ở phụ nữ 40 - 60 tuổi. Mỗi năm ở Hoa Kỳ có 22.430 trường hợp UTBT mới được chẩn đoán và 15.280 phụ nữ tử vong vì UTBT (tỉ lệ tử vong 68%). Do đó, UTBT trong thời gian qua được giới y học xem như “kẻ sát nhân thầm lặng” của phụ nữ. 

Trong 20 năm qua, mặc dù có nhiều tiến bộ đáng kể về chẩn đoán và điều trị ung thư buồng trứng, nhưng kết quả cũng chỉ đạt 40 - 50% người bệnh UTBT sống thêm 5 năm sau điều trị. Lý do: UTBT có nguồn gốc xuất phát đa dạng từ một trong nhiều lớp tế bào của BT, bệnh có diễn tiến nhanh, sự phân định bướu lành hoặc ác tính (tức là UTBT) khó và khoảng 70% nhập viện điều trị ở giai đoạn muộn (III, IV). 

Bướu buồng trứng lành - ác tính 

Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), bướu BT có nguồn gốc xuất phát từ 1 trong 3 thành phần: lớp tế bào biểu mô (chiếm 70%), lớp tế bào mầm (28%), mô đệm, dây sinh dục (2%). Bướu BT lành tính hay gặp ở chị em phụ nữ trưởng thành, trong độ tuổi sinh sản (20 - 40 tuổi) chiếm 75% các trường hợp. 

Khoảng 90% bướu BT lành tính có dạng bướu bọc (còn gọi là u nang BT) với vỏ bọc trơn láng bao phủ bên ngoài, bên trong chứa dịch trong hoặc dịch nhầy. Bướu BT lành tính thường có diễn tiến chậm và không xâm lấn các cơ quan kế cận. 10% bướu BT lành tính có dạng đặc, với vỏ bọc bên ngoài, bên trong có chỗ chứa dịch, có chỗ đặc chứa mô sụn, răng, tóc. Bướu có tên là bướu quái. 

Bướu BT ác tính hay UTBT thường gặp ở chị em phụ nữ sau mãn kinh, độ tuổi trên 50 -60 và khoảng 90% có nguồn gốc tế bào biểu mô. Việc xác định tính chất lành - ác và đặc điểm mô bệnh học rất quan trọng trong điều trị. Ngoài ra, một số ít bướu BT có thể thuộc nhóm giáp biên (bordeline), bản chất lành - ác tính khó phân biệt. Công tác điều trị và theo dõi cần chặt chẽ và xử trí kịp thời khi có biểu hiện bất thường. 

Thực tế buồn của ung thư buồng trứng 

Đối với người bệnh bị bướu BT lành tính, việc chữa trị chủ yếu là mổ cắt bỏ bướu hoặc BT có bướu, quan sát ổ bụng, tử cung, BT đối bên. Lấy mẫu thử giải phẫu bệnh. Nếu kết quả mô bệnh học xác định: bướu BT lành, nên tiếp tục theo dõi thêm một thời gian nữa. Tương lai bệnh tốt. 

Có khoảng 70% trường hợp UTBT được chẩn đoán bệnh muộn. Mặc dù được tích cực điều trị bằng phẫu trị (mổ cắt bỏ tử cung, hai BT và cắt mạc nối lớn) và hóa trị bổ túc sau mổ, chỉ có khoảng 30% người bệnh sống thêm 5 năm. Hơn nữa, chi phí điều trị cao, thời gian điều trị dài và nguy cơ bệnh tái phát lan tràn lại trong ổ bụng cũng nhiều (50 - 60%). 

Ngược lại, nếu UTBT được phát hiện, chẩn đoán bệnh sớm (giai đoạn I, II), kết quả sống 5 năm có thể đạt 70 - 80% sau điều trị phẫu thuật. Hóa trị sẽ được xem xét tùy tình huống. Do vậy, việc chú ý phát hiện, chẩn đoán sớm UTBT có giá trị quyết định nhằm cải thiện kết quả điều trị UTBT hiện tại và tương lai. Bốn triệu chứng cảnh báo UTBT Hội nghị năm 2007 của Hiệp hội Sản phụ khoa và Hội UT Hoa Kỳ cùng với báo cáo gần đây của BS. William Hamilton, Trường Đại học Bristol, Anh cho thấy: UTBT không lặng im như chúng ta nghĩ. Nó có “lên tiếng”… cảnh báo nhưng chúng ta chưa đủ khả năng giải mã các tín hiệu. 
 

Theo Hiệp hội Sản Phụ khoa Hoa Kỳ, nếu các triệu chứng trên tái diễn khoảng 3 - 4 tháng và ngày càng rõ rệt, thường xuyên hơn, chị em phụ nữ nên đến khám bệnh tại bệnh viện chuyên khoa Sản phụ để được thăm khám và chẩn đoán bệnh. 

Chẩn đoán sàng lọc ung thư buồng trứng

Bốn triệu chứng cảnh báo UTBT ở chị em phụ nữ tuổi mãn kinh: 

1. Bụng căng chướng, to dần, nhất là phần bụng dưới rốn. 

2. Đau bụng ngầm, kèm theo cảm giác nặng tức bụng dưới rốn. 

3. Rối loạn đường tiểu: người bệnh tiểu lắc nhắc nhiều lần trong ngày. 

4. Ngán ăn và có cảm giác đầy bụng. 

Việc chẩn đoán UTBT dạng tế bào biểu mô giai đoạn sớm dựa trên: siêu âm qua ngã âm đạo, định lượng CA 125/huyết thanh. 

- Với máy siêu âm 3-D có độ phân giải cao, với đầu dò chuyên dùng và bác sĩ siêu âm có tay nghề, kết quả siêu âm BT qua ngã âm đạo có thể đạt độ tin cậy chẩn đoán 80%. 

- Nếu kết quả định lượng CA 125 > hoặc bằng 35U/mL: nghĩ đến UTBT. Lưu ý: chỉ có khoảng 50 - 60% UTBT giai đoạn I, II có CA 125 tăng. Cần nhớ: việc xác định UTBT vẫn đặt cơ sở chủ yếu vào kết quả giải phẫu bệnh mẫu mô bệnh của khối u BT có được khi thực hiện nội soi ổ bụng, sinh thiết. 

Việc tầm soát UTBT chỉ được áp dụng hiện nay với phụ nữ trên 40 tuổi, thuộc nhóm nguy cơ cao: có tiền sử gia đình nhiều người thân bị UT vú, UT BT; có gen BRCA 1, BRCA 2 đột biến, hoặc có tiền sử gia đình mắc hội chứng Lynch II (UT đại tràng không đa pô-líp di truyền).

CA 125 có phải là dấu ấn ung thư buồng trứng? 

CA 125 (Cancer Antigen 125) là protein được tìm thấy trên bề mặt tế bào của 80% các UTBT dạng tế bào biểu mô, với số nồng độ cao rất nhiều hơn bình thường. CA 125 cũng có hiện diện trong huyết thanh của một số UT khác như: UT nội mạc tử cung, UT tụy, UT tai vòi, UT đại tràng… Ngoài ra, một số tình huống bệnh lý khác ở phụ nữ cũng có nồng độ CA 125 tăng như: bệnh lạc nội mạc tử cung, viêm tụy, mang thai, viêm nhiễm vùng chậu.

Ngày nay, vai trò của CA 125 trong UTBT dạng biểu mô được xác định:

- Có giá trị chẩn đoán xác định UTBT: khi CA 125 tăng cao 3 - 4 lần trị số bình thường (CA 125: 35U/mL) kết hợp với kết quả siêu âm ngã âm đạo, CT-scan bụng và ở phụ nữ sau mãn kinh bị căng chướng bụng dưới rốn kéo dài.

- Có giá trị trong việc theo dõi điều trị: nồng độ CA 125 trong huyết thanh người bệnh UTBT đã phẫu trị, hóa trị sẽ giảm, trở về trị số bình thường khi kết quả điều trị tốt. Nếu CA 125 tăng trở lại, và liên tục tăng thêm theo thời gian, có thể là dấu hiệu bệnh UTBT không đáp ứng điều trị hoặc có tái phát. Người bệnh cần được thăm khám lại và siêu âm bụng, chụp scan bụng kiểm tra.

BS. TRẦN CHÁNH KHƯƠNG
Xem tiếp…

ads

.

Ý kiến đóng góp của bạn