Trị khí hư vùng kín với bài thuốc rẻ tiền nhưng hiệu quả

09:21 |
Âm đạo ra khí hư, ẩm ướt ngứa ngáy luôn tạo cảm giác khó chịu cho các chị em, nhiều người đã tìm đủ các loại nước vệ sinh phụ nữ đang bán trên thị trường về dùng nhưng vẫn không thể cải thiện được tình hình, sự ngứa ngáy khó chịu như một gánh nặng đeo đuổi chị em. 

Làm cách nào để giải tỏa những khó chịu mà khí hư vùng kín gây ra. Một trong những bài thuốc dân gian được người xưa hay dùng là vệ sinh vùng kín bằng lá trầu không. 


Những nghiên cứu gần đây cho thấy ngoài tinh dầu đã được nhiều người biết đến thì lá trầu không còn có một lượng lớn chất talin, đường, diatara... Những thành phần này có hoạt chất ức chế các chủng vi khuẩn, các chủng nấm, chống lại sự phát triển, gây bệnh của nấm, vi khuẩn, hạn chế tình trạng viêm ngứa vùng kín do các tác nhân này gây ra. 

Tinh dầu trong lá trầu không có khả năng chống viêm, sát khuẩn, làm lành các vết thương nhanh chóng, do vậy có thể chữa các bệnh do viêm nhiễm hiệu quả. Ở Việt Nam, lá trầu không rất phổ biến giá thành rẻ, các mẹ hoàn toàn có thể chế tạo ra một loại nước rửa vệ sinh vùng kín an toàn, hiệu quả mà rẻ tiền. 

Cách dùng: lấy một nắm lá trầu không rửa sạch dưới vòi nước đang chảy, sau đó vò nát lá rồi cho vào một cái ấm, đun nước sôi thật nóng dội vào để ủ khoảng 15 phút lấy nước đó vệ sinh bên ngoài vùng kín hàng ngày. Hoặc có thể mua một cái bô mới vò lá trầu không nát và dội nước nóng già vào chờ cho ngấm rồi ngồi xông, sau khi nước nguội có thể đựng nước vào chai để rửa ráy vệ sinh... 

Công dụng của lá trầu không trong điều trị các bệnh về viêm nhiễm âm đạo cho hiệu quả rất tốt, tuy nhiên không nên dùng nước này để thụt rửa sâu âm đạo, không ngâm âm đạo trong nước quá lâu, vì như vậy chẳng khác nào đưa thêm vi khuẩn vào vùng kín. 

Tuy nhiên, trong trường hợp viêm âm đạo kéo dài, xuất hiện khí hư có màu vàng mùi hôi thì các mẹ phải đi khám phụ khoa để tìm nguyên nhân chính xác gây ra tình trạng trên. Không được tự ý dùng thuốc điều trị. Khi đi khám bác sĩ sẽ phát hiện tình trạng bệnh cụ thể là gì rồi sẽ hướng dẫn điều trị. 

Ngoài việc dùng thuốc điều trị, mẹ vẫn nên vệ sinh sạch sẽ vùng kín bằng lá trầu không, việc này sẽ hộ trợ rất tốt trong điều trị nấm, viêm nhiễm âm đạo…Đặt biệt, vệ sinh vùng kín bằng lá trầu không với phụ nữ sau sinh nhất là trong giai đoạn còn ra sản dịch vô cùng hiệu quả, rất sạch sẽ và an toàn… 


BS. Nguyễn Thị Lương
Xem tiếp…

Phòng chống viêm đường tiết niệu cho chị em

09:20 |
Viêm đường tiết niệu ở phụ nữ là một bệnh thường gặp, nhất là lứa tuổi trưởng thành, đã có quan hệ tình dục. Viêm đường tiết niệu gây nên tình trạng mệt mỏi và khó chịu trong đời sống hàng ngày, ảnh hưởng đến lao động, thậm chí gây biến chứng nguy hiểm nếu không chữa trị nghiêm túc. 

Những nguyên nhân viêm tiết niệu

Đường tiết niệu kéo dài từ thận đến lỗ tiểu và có nhiều nguyên nhân gây viêm đường tiết niệu, trong đó nữ giới có tỉ lệ mắc bệnh nhiều hơn nam giới, bởi cấu tạo của niệu đạo nữ giới ngắn hơn, lỗ tiểu lại gần với hậu môn dễ bị nhiễm bẩn. 


Đó là chưa kể phụ nữ trong những ngày kinh nguyệt hoặc thời kỳ mang thai nếu vệ sinh không sạch sẽ rất dễ viêm đường tiết niệu hoặc có thói quen tắm bồn là điều kiện thuận lợi cho vi sinh vật gây bệnh xâm nhập đường tiết niệu. Bên cạnh đó, ở tuổi trưởng thành nếu không vệ sinh sạch sẽ trước và sau khi quan hệ tình dục hoặc quan hệ tình dục bừa bãi là một trong những nguyên nhân gây viêm đường tiết niệu. 

Một số trường hợp mắc bệnh sỏi đường tiết niệu (sỏi thận, niệu quản, bàng quang, niệu đạo) rất dễ dẫn đến viêm đường tiệt niệu. Căn nguyên gây viêm đường tiết niệu chủ yếu do vi khuẩn (chiếm tỉ lệ 70%) hoặc vi nấm. 

Vi khuẩn thường hay gặp nhất là E.coli, Proteus, Enterobacter, tụ cầu loại gặp nhiều nhất là S. epiermitidis (tụ cầu da), S. saprophyticus (tụ cầu hoại sinh). Đối với vi nấm thường gặp là Candida albicans. Ngoài ra, có một số yếu tố thuận lợi gây nguy cơ mắc bệnh viêm đường tiết niệu ở phụ nữ, đó là thói quen uống ít nước làm cho việc đào thải chất cặn bã chậm lại hoặc thói quen nhịn tiểu làm cho nước tiểu ứ đọng kéo dài tạo điều kiện cho vi khuẩn, vi nấm tồn tại và phát triển gây bệnh. 

Một số trượng hợp do đi giày cao gót thường xuyên khiến hông và xương sống bị ảnh hưởng, gây nên tiểu tiện không đều, dễ bị viêm nhiễm đường tiết niệu. Ngoài ra, một số tác giả đề cập đến vai trò di truyền trong viêm đường tiết niệu ở nữ giới, có nghĩa là do gen chỉ huy hoạt động của hệ thống tiết niệu bị lỗi. Hoặc do rối loạn thần kinh thực vật chỉ huy, điều hành hoạt động của bàng quang gây rối loạn tiểu tiện có thể gây nên viêm đường tiết niệu. 

Triệu chứng viêm tiết niệu

Viêm tiết niệu ở phụ nữ thường xuất hiện buồn tiểu và rất muốn đi tiểu, có cảm giác đau, tức ở bụng dưới (tương ứng với bàng quang), nhất là lúc đi tiểu. Người bệnh có thể đi tiểu buốt, tiểu rắt, nước tiểu đục, có mùi khai nồng. Các triệu chứng này ngày một nặng thêm. Một số trường hợp có sốt do viêm cấp, nếu bị nhiễm trùng đường tiết niệu ở niệu quản, thận, có thể đau ê ẩm vùng thắt lưng. Nhiều trường hợp xuất hiện tiểu đêm, thậm chí tiểu dầm. 

Viêm đường tiết niệu ở phụ nữ nếu không được phát hiện, chữa trị đúng và người bệnh không thực hiện nghiêm túc do chủ quan, xem thường có thể gây biến chứng viêm đường tiết niệu lan rộng (nhiều bộ phận của đường tiết niệu bị viêm nhiễm), nguy hiểm nhất là gây viêm thận, hậu quả có thể suy thận. Từ viêm đường tiết niệu, vi sinh vật gây bệnh có thể vào máu gây nhiễm trùng huyết. 

Để chẩn đoán viêm đường tiết niệu ở phụ nữ, ngoài các triệu chứng lâm sàng, cần làm xét nghiệm nước tiểu để tìm căn nguyên gây bệnh (vi khuẩn, vi nấm). Trên cơ sở nuôi cấy vi khuẩn, phân lập được vi khuẩn, có thể thực hiện kỹ thuật kháng sinh đồ để tìm kháng sinh có tác dụng mạnh nhất đối với vi khuẩn gây bệnh. 

Bên cạnh đó, cần siêu âm hệ tiết niệu (thận, niệu quản, bàng quang) để phát hiện sự viêm nhiễm và các tác nhân gây cản trở sự lưu thông nước tiểu (sỏi, di dạng, u…). Trong trường hợp cần thiết có thể nội soi (nội soi bàng quang), chụp X-quang, hoặc chụp cắt lớp vi tính (CT), tốt hơn nữa là chụp cộng hưởng từ (MRI). 


Nguyên tắc điều trị 

Nguyên tắc điều trị viêm đường tiết niệu là dùng kháng sinh, đủ liều lượng. Nếu xác định được loại vi khuẩn gì và có kết quả của kháng sinh đồ. Bác sĩ điều trị sẽ cân nhắc, xem xét nên dùng kháng sinh gì là tốt nhất, bởi vì, còn tùy thuộc vào đối tượng bị bệnh (đang mang thai, người có tuổi, thể trạng dị ứng…). Vì vậy, người bệnh không nên ngại đi khám bệnh và không được tự chẩn đoán bệnh cho mình và không tự mua thuốc kháng sinh để điều trị. 

Để phòng bệnh viêm đường tiết niệu ở phụ nữ, trước tiên cần vệ sinh vùng kín sạch sẽ hàng ngày, nhất là thời kỳ hành kinh, mang thai hoặc trước và sau quan hệ tình dục. Khi dùng nước để rửa cần phải dội từ trước ra sau để tránh nhiễm bẩn từ hậu môn và mỗi lần đi đại tiện xong, dùng giấy vệ sinh, cần lau từ trước ra sau. 

Sau khi quan hệ tình dục nên đi tiểu ngay để nước tiểu đẩy vi khuẩn ra khỏi niệu đạo, tránh viêm ngược dòng. Cần uống đủ lượng nước hàng ngày (khoảng 1,5 - 2,0 lít) bao gồm cả lượng nước có trong rau, canh, hoa quả… Căn nguyên gây viêm đường tiết niệu chủ yếu do vi khuẩn chiếm tỉ lệ 70% 


ThS.BS. BÙI MAI HƯƠNG
Xem tiếp…

Nhiễm trùng tiết niệu sau sinh, những điều cần biết

09:30 |
Một trong những rắc rối phổ biến chị em phải đối mặt sau khi sinh con là nhiễm trùng đường tiết niệu. Nhiễm trùng đường tiết niệu xuất hiện khi tác nhân gây bệnh xâm nhập vào đường tiểu, thường là qua niệu đạo và gây nhiễm trùng. Trong một số trường hợp, vi khuẩn có thể di chuyển tới thận và gây viêm thận.

Mang thai khiến cơ thể bạn thay đổi theo nhiều cách và những thay đổi này ảnh hưởng tới cơ thể bạn ngay cả sau khi bạn sinh con. Trong quá trình cơ thể phục hồi, bạn có thể phải đối phó với nhiều vấn đề sau sinh ở những mức độ khác nhau. 



Nguyên nhân nhiễm trùng tiết niệu sau sinh

Niệu đạo của phụ nữ (dài 4cm) ngắn hơn so với nam giới (20cm) khiến vi khuẩn dễ tấn công bàng quang. Do vậy, nhiễm trùng đường tiết niệu ở phụ nữ phổ biến hơn ở nam giới. Mang thai khiến phụ nữ càng dễ bị tổn thương hơn. Cơ sàn chậu giúp giữ chặt niệu đạo để nước tiểu không rò rỉ ra ngoài.

Trong khi sinh con, những cơ này bị yếu đi cùng với dây chằng, dây thần kinh và cơ bụng dưới. Kết quả là chúng hoạt động kém đi. Mang thai cũng khiến bàng quang hoạt động kém và nước tiểu khó thoát đi hết. Điều này làm cho nước tiểu dễ bị chảy ngược lại niệu quản. Nước tiểu càng ở lại lâu trong đường niệu, nguy cơ vi khuẩn sinh sôi càng lớn, do vậy tăng nguy cơ nhiễm trùng.

Dấu hiệu và triệu chứng nhiễm trùng tiết niệu

- Bàng quang và niệu đạo bị viêm

- Đau ở vùng chậu và bụng

- Mót tiểu (nhưng có thể chỉ tiểu nhỏ giọt)

- Đi tiểu thường xuyên hơn

- Cảm giác bỏng rát khi đi tiểu

- Nước tiểu có mùi khó chịu (mùi hôi)

- Đau cơ thể, sốt và mệt mỏi

Điều trị nhiễm trùng tiết niệu sau sinh

Nhiễm trùng đường tiết niệu thường được điều trị bằng kháng sinh. Trong trường hợp nặng, có thể truyền kháng sinh đường tĩnh mạch. Nếu bạn đang cho con bú, bác sĩ sẽ kê đơn kháng sinh phù hợp cho bạn. Có thể dùng thuốc hạ sốt và thuốc giảm đau tùy từng trường hợp.



Phòng ngừa 

- Uống nhiều nước giúp đẩy vi khuẩn ra khỏi hệ bài tiết.

- Uống nước ép nam việt quất: loại nước ép này được khoa học chứng minh là điều trị cũng như dự phòng nhiễm trùng đường tiểu bằng cách ngăn chặn vi sinh vật gây bệnh bám vào thành đường niệu.

- Dùng thực phẩm chứa nhiều vitamin C để giúp nước tiểu có tính axít hơn, giúp cơ thể phá hủy và giảm số lượng vi khuẩn gây nhiễm trùng trong hệ tiết niệu.

- Thực hành vệ sinh tốt. Tránh dùng tampon, và thay băng vệ sinh thường xuyên khi có kinh nguyệt hoặc ra sản dịch.

- Tránh sử dụng các sản phẩm có mùi thơm, kem hoặc gel quanh âm hộ vì chúng có thể làm tăng khả năng nhạy cảm với nhiễm trùng đường tiết niệu.

- Mặc quần áo rộng để bộ phận sinh dục luôn khô ráo và ngăn ngừa vi khuẩn phát triển.

- Thận trọng khi quan hệ tình dục. Đi tiểu ngay sau khi quan hệ tình dục để đẩy vi khuẩn ra ngoài. Đồng thời vệ sinh âm đạo bằng nước ngay sau khi giao hợp.


BS Tuyết Mai
Xem tiếp…

Hiểu biết về huyết trắng sinh lý và bệnh lý

14:56 |
Bên cạnh huyết trắng sinh lý, còn có rất nhiều nguyên nhân gây ra huyết trắng có tính chất bệnh lý, đa số đều do viêm nhiễm. Nếu thấy huyết trắng với thay đổi như có mùi hôi với màu sắc, số lượng bất thường cần được kiểm tra và điều trị kịp thời. 

Huyết trắng sinh lý 

Trong điều kiện sinh lý bình thường, huyết tương thấm qua các mao mạch nhỏ li ti, qua tổ chức hạch ở thành âm đạo cùng với các chất nhầy do các tuyến ở môi lớn - môi bé, tiền đình, ở tử cung, niệu đạo, bàng quang… tiết ra, trộn lẫn với tế bào biểu mô ở tử cung và âm đạo bong ra, với một ít bạch huyết, tế bào tự do, tạo thành một chất nhầy màu trắng sữa giống như lòng trắng trứng gà, có mùi hơi tanh.


Với những yếu tố trên, huyết trắng loại này được gọi là huyết trắng sinh lý. Tính chất và số lượng huyết trắng tiết ra tùy thuộc vào hàm lượng estrogene trong cơ thể người phụ nữ. Khi còn nhỏ, bộ máy sinh dục chưa phát triển đầy đủ, nhìn chung trong âm đạo không có nội tiết nên không có huyết trắng. 

Vào tuổi dậy thì, buồng trứng dần dần phát triển và tiết ra chất kích thích khiến bộ máy sinh dục sản sinh các chất nội tiết, vì thế mới có huyết trắng. Đến tuổi trưởng thành, buồng trứng phát triển hoàn thiện, hàng tháng đều tiết tiết ra estrogen và progesteron, vì thế làm cho huyết trắng thay đổi theo mỗi chu kỳ, tùy theo hàm lượng của estrogen và progesteron mà huyết trắng nhiều hay ít. 

Trong chu kỳ kinh nguyệt, khi lượng estrogen tăng lên, các tổ chức của thân tuyến ở cổ tử cung (CTC) được tiết ra nhiều, hàm lượng nước trong nó cũng tăng lên, cho nên thấy xuất hiện loại chất nhầy như lòng trắng trứng gà, có thể kéo thành sợi, đặc biệt là trước rụng trứng khoảng 12 - 24 giờ, chất nội tiết loại này càng nhiều, vì thế làm cho chị em phụ nữ luôn cảm thấy cửa mình ẩm ướt. 

Sau rụng trứng lượng nội tiết tố progesteron tăng lên, ức chế việc tăng tiết chất nhầy ở CTC, lúc này huyết trắng có màu trắng sữa, sánh đặt và dính hơn. Ngoài ra, trong thời kỳ mang thai, khi lao động nặng, đặc biệt trong kích thích sinh hoạt tình dục, huyết trắng cũng tăng tiết nhiều, có lúc chảy thành dòng ra ngoài. Cho nên trong điều kiện sinh lý bình thường huyết trắng ra có lúc nhiều, có lúc ít, tính chất có khi thay đổi đôi chút, nhưng nhìn chung đó cũng là trạng thái bình thường. 

Huyết trắng bệnh lý 

Cơ quan sinh dục nữ hết sức nhạy cảm cho nhiều mầm bệnh khác nhau phát triển, từ viêm nhiễm thông thường trong đời sống vợ chồng, đến các bệnh viêm nhiễm do tạp trùng, do nấm, do ký sinh trùng… Tùy theo nguyên nhân và tính chất của bệnh tạo ra một chất dịch thoát ra từ âm đạo gọi là khí hư, còn gọi là huyết trắng bệnh lý.


Viêm âm hộ - âm đạo: Viêm âm hộ - âm đạo do Trichomonas Vaginalis: loại này chiếm 20% số viêm âm đạo, âm đạo đỏ rực với chấm đỏ giống như quả dây tây, đôi khi sung huyết, khí hư có màu xanh nhạt, loãng, có bọt, với số lượng nhiều, kèm theo triệu chứng ngứa rát âm hộ, có khoảng 10% người bệnh không có triệu chứng.

Điều trị: Fasigyl (Tinidazole) uống 2g (4viên) liều duy nhất, với trẻ em dùng liều 50 - 70mg/kg cân nặng, uống liều duy nhất. Hoặc Flagentyl (Secnidazole) uống 2g (4viên) liều duy nhất.

Viêm âm hộ - âm đạo do nấm Candida: đây là bệnh phụ khoa thường gặp, ngoài lây truyền qua đường tình dục bệnh còn lây qua nước, quần áo… bệnh do loại vi nấm hạt men gây nên, có tên khoa học là Candida Albican. Nấm dễ phát triển trong môi trường ẩm ướt và pH âm đạo < 5.

Đặc trưng là huyết trắng sánh đặc, màu trắng lợn cợn, đóng thành mảng, gây ngứa, rát nhiều, giao hợp đau, âm hộ viêm đỏ, nề, âm đạo viêm đỏ, ứ đọng huyết trắng, pH âm đạo < 4,5.

Điều trị: đặt âm đạo bằng thuốc Miconazole hay Clotrimazole viên 100mg, đặt từ 3 - 7 đêm. Uống Fluconazole 150mg, một liều duy nhất (1 viên).

Huyết trắng do tạp trùng: thường liên quan đến Gardnerella vaginalis, vi khuẩn yếm khí, Mycoplasma… Huyết trắng có màu vàng hoặc xám, loãng, tráng đều thành âm đạo, có mùi hôi.

Điều trị: metronidazol 500mg uống 2 lần/ngày, uống trong 7 ngày. Hoặc uống Metronidazole 2g liều duy nhất.

Viêm cổ tử cung: Viêm ctc do lậu cầu: người ta thấy rằng lậu ở nữ có 97% không có triệu chứng, có khoảng 3% là bệnh nhân có tiểu buốt, tiểu gắt, khí hư vàng rất hay gặp. Trường hợp này chẩn đoán qua xét nghiệm vi khuẩn.

Viêm CTC do chlamydia trachomatic, qua nghiên cứu người ta thấy rằng có khoảng 20 - 25% người bệnh không có triệu chứng, có 30 - 60% trường hợp khí hư giống như mủ, ra máu 30% trường hợp, tiểu khó là 20 - 60% số trường hợp.

Viêm CTC cấp tính: thường gặp thời kỳ sau sinh, sau sảy thai, rách CTC làm niêm mạc cổ trong bị lộn vào âm đạo và bị nhiễm khuẩn. Hình thái nhiễm khuẩn này của CTC gây ra viêm bạch mạch ở nền dây chằng rộng. Biểu hiện khí hư như chất nhày, có mủ, CTC sung huyết phù nề.

Viêm CTC mạn tính: tình trạng viêm CTC bị kéo dài, chất nhày CTC đặc sánh có mủ, không ngứa, giao hợp không đau, nhưng đôi khi bị ra máu khi giao hợp.

Viêm niêm mạc CTC: thường tiếp theo của viêm CTC hay gặp sau sảy thai, sau sinh hay sau khi can thiệp vào buồng tử cung như đặt hay tháo vòng tránh thai. Biểu hiện người bệnh sốt 38 - 390, đau vùng hạ vị…

Huyết trắng thể hiện được tình trạng nội tiết và sức khỏe của người phụ nữ. Huyết trắng không những giữ cho âm đạo luôn có độ ẩm nhất định mà còn có tác dụng chống vi khuẩn của bệnh tật xâm nhập vào. Nếu thấy huyết trắng với thay đổi như có mùi hôi với màu sắc, số lượng bất thường cần được kiêm tra và điều trị kịp thời.


BS.CKI. TRẦN QUỐC LONG
Xem tiếp…

Ứng phó với viêm đường tiết niệu ở chị em

09:43 |
Viêm đường tiết niệu ở phụ nữ là một bệnh thường gặp, nhất là lứa tuổi trưởng thành, đã có quan hệ tình dục. Viêm đường tiết niệu gây nên tình trạng mệt mỏi và khó chịu trong đời sống hàng ngày, ảnh hưởng đến lao động, thậm chí gây biến chứng nguy hiểm nếu không chữa trị nghiêm túc. 

Những nguyên nhân viêm đường tiết niệu

Đường tiết niệu kéo dài từ thận đến lỗ tiểu và có nhiều nguyên nhân gây viêm đường tiết niệu, trong đó nữ giới có tỉ lệ mắc bệnh nhiều hơn nam giới, bởi cấu tạo của niệu đạo nữ giới ngắn hơn, lỗ tiểu lại gần với hậu môn dễ bị nhiễm bẩn. 



Đó là chưa kể phụ nữ trong những ngày kinh nguyệt hoặc thời kỳ mang thai nếu vệ sinh không sạch sẽ rất dễ viêm đường tiết niệu hoặc có thói quen tắm bồn là điều kiện thuận lợi cho vi sinh vật gây bệnh xâm nhập đường tiết niệu. Bên cạnh đó, ở tuổi trưởng thành nếu không vệ sinh sạch sẽ trước và sau khi quan hệ tình dục hoặc quan hệ tình dục bừa bãi là một trong những nguyên nhân gây viêm đường tiết niệu. 

Một số trường hợp mắc bệnh sỏi đường tiết niệu (sỏi thận, niệu quản, bàng quang, niệu đạo) rất dễ dẫn đến viêm đường tiệt niệu. Căn nguyên gây viêm đường tiết niệu chủ yếu do vi khuẩn (chiếm tỉ lệ 70%) hoặc vi nấm. Vi khuẩn thường hay gặp nhất là E.coli, Proteus, Enterobacter, tụ cầu loại gặp nhiều nhất là S. epiermitidis (tụ cầu da), S. saprophyticus (tụ cầu hoại sinh). 

Đối với vi nấm thường gặp là Candida albicans. Ngoài ra, có một số yếu tố thuận lợi gây nguy cơ mắc bệnh viêm đường tiết niệu ở phụ nữ, đó là thói quen uống ít nước làm cho việc đào thải chất cặn bã chậm lại hoặc thói quen nhịn tiểu làm cho nước tiểu ứ đọng kéo dài tạo điều kiện cho vi khuẩn, vi nấm tồn tại và phát triển gây bệnh. 

Một số trượng hợp do đi giày cao gót thường xuyên khiến hông và xương sống bị ảnh hưởng, gây nên tiểu tiện không đều, dễ bị viêm nhiễm đường tiết niệu. Ngoài ra, một số tác giả đề cập đến vai trò di truyền trong viêm đường tiết niệu ở nữ giới, có nghĩa là do gen chỉ huy hoạt động của hệ thống tiết niệu bị lỗi. Hoặc do rối loạn thần kinh thực vật chỉ huy, điều hành hoạt động của bàng quang gây rối loạn tiểu tiện có thể gây nên viêm đường tiết niệu.

Triệu chứng viêm đường tiết niệu

Viêm tiết niệu ở phụ nữ thường xuất hiện buồn tiểu và rất muốn đi tiểu, có cảm giác đau, tức ở bụng dưới (tương ứng với bàng quang), nhất là lúc đi tiểu. Người bệnh có thể đi tiểu buốt, tiểu rắt, nước tiểu đục, có mùi khai nồng. Các triệu chứng này ngày một nặng thêm. 

Một số trường hợp có sốt do viêm cấp, nếu bị nhiễm trùng đường tiết niệu ở niệu quản, thận, có thể đau ê ẩm vùng thắt lưng. Nhiều trường hợp xuất hiện tiểu đêm, thậm chí tiểu dầm. 

Viêm đường tiết niệu ở phụ nữ nếu không được phát hiện, chữa trị đúng và người bệnh không thực hiện nghiêm túc do chủ quan, xem thường có thể gây biến chứng viêm đường tiết niệu lan rộng (nhiều bộ phận của đường tiết niệu bị viêm nhiễm), nguy hiểm nhất là gây viêm thận, hậu quả có thể suy thận.

Từ viêm đường tiết niệu, vi sinh vật gây bệnh có thể vào máu gây nhiễm trùng huyết. Để chẩn đoán viêm đường tiết niệu ở phụ nữ, ngoài các triệu chứng lâm sàng, cần làm xét nghiệm nước tiểu để tìm căn nguyên gây bệnh (vi khuẩn, vi nấm). 


Trên cơ sở nuôi cấy vi khuẩn, phân lập được vi khuẩn, có thể thực hiện kỹ thuật kháng sinh đồ để tìm kháng sinh có tác dụng mạnh nhất đối với vi khuẩn gây bệnh. Bên cạnh đó, cần siêu âm hệ tiết niệu (thận, niệu quản, bàng quang) để phát hiện sự viêm nhiễm và các tác nhân gây cản trở sự lưu thông nước tiểu (sỏi, di dạng, u…). Trong trường hợp cần thiết có thể nội soi (nội soi bàng quang), chụp X-quang, hoặc chụp cắt lớp vi tính (CT), tốt hơn nữa là chụp cộng hưởng từ (MRI).

Nguyên tắc điều trị viêm tiết niệu

Nguyên tắc điều trị viêm đường tiết niệu là dùng kháng sinh, đủ liều lượng. Nếu xác định được loại vi khuẩn gì và có kết quả của kháng sinh đồ. Bác sĩ điều trị sẽ cân nhắc, xem xét nên dùng kháng sinh gì là tốt nhất, bởi vì, còn tùy thuộc vào đối tượng bị bệnh (đang mang thai, người có tuổi, thể trạng dị ứng…). Vì vậy, người bệnh không nên ngại đi khám bệnh và không được tự chẩn đoán bệnh cho mình và không tự mua thuốc kháng sinh để điều trị. 

Để phòng bệnh viêm đường tiết niệu ở phụ nữ, trước tiên cần vệ sinh vùng kín sạch sẽ hàng ngày, nhất là thời kỳ hành kinh, mang thai hoặc trước và sau quan hệ tình dục. Khi dùng nước để rửa cần phải dội từ trước ra sau để tránh nhiễm bẩn từ hậu môn và mỗi lần đi đại tiện xong, dùng giấy vệ sinh, cần lau từ trước ra sau. 

Sau khi quan hệ tình dục nên đi tiểu ngay để nước tiểu đẩy vi khuẩn ra khỏi niệu đạo, tránh viêm ngược dòng. Cần uống đủ lượng nước hàng ngày (khoảng 1,5 - 2,0 lít) bao gồm cả lượng nước có trong rau, canh, hoa quả… Căn nguyên gây viêm đường tiết niệu chủ yếu do vi khuẩn chiếm tỉ lệ 70% 


ThS.BS. BÙI MAI HƯƠNG
Xem tiếp…

Khó thụ thai do nhiễm nấm âm đạo

20:44 |
Do nước ta ở vào vùng khí hậu ẩm ướt, nên phụ nữ cũng dễ bị bệnh nấm âm đạo, dễ tái đi tái lại nhiều lần. Nếu mắc bệnh, cần đến các phòng khám phụ khoa của các cơ sở y tế để được điều trị dứt điểm. Không nên tự chữa theo mách bảo hoặc chữa tại các cơ sở không có uy tín sẽ làm bệnh nặng thêm.

Dễ nhiễm nấm 

Có rất nhiều nguyên nhân gây ra tình trạng nấm âm đạo, nấm âm đạo thường gặp ở phụ nữ là do nấm Candida Albicans gây ra. Ở điều kiện bình thường, nấm thường trực trong môi trường ở dạng bào tử nhưng không gây bệnh. Chỉ khi gặp điều kiện thuận lợi như thời tiết nóng, ẩm hoặc có nguyên nhân nào đó gây mất cân bằng môi trường sinh lý âm đạo, nấm mới phát triển và gây bệnh. 



Môi trường PH bình thường của âm đạo là từ 3,4 - 4,6. Môi trường này giữ cho âm đạo không bị viêm nhiễm. Nếu môi trường âm đạo bị thay đổi vì một lý do nào đó, nấm sẽ tiến triển gây ra chứng nhiễm nấm âm đạo. Ngoài ra, có thể do việc sử dụng thuốc kháng sinh kéo dài; khi vệ sinh, người phụ nữ thụt rửa sâu cũng sẽ phá vỡ môi trường PH của âm đạo. 

Điều kiện vệ sinh cũng là một nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên như quần lót để ẩm thấp, phơi ở nơi không có ánh sáng mặt trời, mặc khi đồ chưa khô. Ngoài ra, nếu lạm dụng thuốc kháng sinh quá nhiều, rửa vệ sinh bằng các loại xà phòng có tính sát khuẩn cao sẽ làm cho vi khuẩn có lợi bị tiêu diệt, gây mất cân bằng vi khuẩn, dẫn đến mất cân đối môi trường âm đạo dễ bị nhiễm nấm. 

Bệnh rất dễ tái phát 

Khi nhiễm nấm âm đạo, phụ nữ cảm thấy ngứa rát vùng kín, ra khí hư bột, trắng đục, cứng và khô như vôi. Khi nhiễm nấm, cần sử dụng kháng sinh chống nấm ở cả đường uống lẫn đặt thuốc tại chỗ. 

Nếu phụ nữ đã lập gia đình bị nhiễm nấm thì nên điều trị cả vợ lẫn chồng. Vì khi giao hợp, các vi khuẩn nấm sẽ đọng lại ở bao quy đầu của người chồng và đây là nguyên do khiến người vợ rất dễ nhiễm nấm trở lại. 

Đặc biệt, không được tự ý dừng đặt thuốc vì nếu điều trị không triệt để, nguy cơ kháng thuốc, tái phát rất cao. 

Tuy nấm âm đạo không gây nguy hiểm cho nữ giới, nhưng lại gây ngứa rát, khó chịu khi quan hệ tình dục, ảnh hưởng đến sinh hoạt hằng ngày. Thêm vào đó, khi môi trường PH âm đạo thay đổi, nấm dày đặc cũng làm cho tinh trùng không có “đường” để chạy qua âm đạo vào cổ tử cung, giảm khả năng thụ thai. 

Các bác sĩ cũng khuyến cáo nấm âm đạo rất dễ tái phát vì môi trường PH dễ thay đổi. Vì vậy, để tránh nhiễm nấm, chị em nên thường xuyên vệ sinh bộ phận sinh dục, giữ quần áo khô ráo, sạch sẽ, phơi ở nơi có ánh sáng mặt trời. Khi vệ sinh chỉ nên rửa ở bên ngoài, không nên thụt rửa sâu để tránh làm mất cân bằng môi trường PH. 


Bác sĩ Thu Thuỷ
Xem tiếp…

Viêm đường tiết niệu phải làm thế nào?

11:03 |
Khoảng 3 ngày nay cháu bị đi tiểu nhiều lần trong ngày, mỗi lần chỉ đi được rất ít nhưng buốt. Có phải cháu bị viêm đường tiết niệu không và dùng thuốc như thế nào? 

 Nguyễn Thị Thuỳ Dương (Vĩnh Phúc) 


Bác sĩ trả lời:
 
Viêm đường tiết niệu là thuật ngữ người ta dùng để chỉ tình trạng viêm nhiễm đường tiết niệu ở thấp gồm niệu đạo, bàng quang. Thông thường nhất là do vi khuẩn xâm nhập ngược dòng qua lỗ niệu đạo vào niệu đạo gây viêm niệu đạo. 



Bình thường, cơ thắt ở cổ bàng quang luôn đóng, chỉ mở khi đi tiểu và dòng nước tiểu luôn chảy theo chiều từ bàng quang ra. Hai yếu tố này có tác dụng ngăn cản vi khuẩn xâm nhập vào bàng quang. 

Một số trường hợp rối loạn cơ thắt, làm vi khuẩn có thể xâm nhập được vào bàng quang hoặc do các thủ thuật thông đái, soi bàng quang có thể đẩy các vi khuẩn từ niệu đạo vào bàng quang gây viêm bàng quang. Đây là những trường hợp viêm đường tiết niệu do các vi khuẩn thông thường. Cũng có thể gặp viêm đường tiết niệu do các vi khuẩn đặc hiệu như lậu cầu khuẩn, nếu trước đó có quan hệ tình dục với người bị bệnh lậu. 

Nếu chỉ bị viêm đường tiết niệu thông thường thì điều trị không khó khăn lắm và có thể khỏi hoàn toàn. Triệu chứng thường gặp là đái rắt (nghĩa là đái nhiều lần trong ngày, có thể 4 - 5 lần nhưng cũng có thể 10 - 20 lần, nhưng mỗi lần chỉ có rất ít nước tiểu) và đái buốt, thường buốt ở miệng sáo hoặc vùng tầng sinh môn vào cuối bãi. 

Trường hợp của cháu, nếu loại trừ các trường hợp viêm đường tiết niệu do các vi khuẩn đặc hiệu, thì nhiều khả năng là viêm đường tiết niệu cấp tính do vi khuẩn thông thường. 

Cháu có thể điều trị theo cách sau: 

- Cần uống nhiều nước, khoảng 2 lít mỗi ngày để làm tăng lượng nước tiểu giúp thải vi khuẩn ra khỏi đường niệu. Cũng có thể uống nước sắc râu ngô, bông mã đề, rễ cỏ tranh, tua rễ đa, nước rau cải... là các chất gây lợi tiểu nhẹ. Nếu viêm đường tiết niệu chỉ ở mức độ nhẹ (đi tiểu dưới 5 lần một ngày, ít buốt, mới bị 1 -2 ngày) có thể chỉ bằng uống nhiều nước cũng khỏi được. 

 - Sử dụng kháng sinh loại đào thải chủ yếu qua thận, nên chọn kháng sinh tác dụng lên vi khuẩn gram âm như trimethoprim hoặc ofloxaxin (cần chú ý không dùng ofloxaxin cho trẻ em dưới 16 tuổi vì thuốc gây chậm phát triển sụn). 

- Nếu đái buốt nhiều thì có thể uống thêm các thuốc làm giãn cơ trơn như nospa... Các thuốc trên uống trong khoảng 5 - 7 ngày, nên uống lúc đói để thuốc được hấp thu tốt hơn. 

Điều quan trọng nữa là cháu cần đề phòng bệnh tái nhiễm. Vì lỗ niệu đạo rất gần hậu môn, nên các vi khuẩn từ đường tiêu hoá dễ xâm nhập vào niệu đạo. Niệu đạo phụ nữ ngắn và thẳng hơn nam giới, nên vi khuẩn dễ xâm nhập hơn, vì thế hay gặp viêm đường tiết niệu ở phụ nữ hơn là nam giới. 

Để đề phòng bệnh, cần giữ vệ sinh vùng sinh dục và tầng sinh môn (đoạn giữa hậu môn và cơ quan sinh dục) bằng cách rửa bằng xà phòng mỗi ngày một lần. Với phụ nữ, khi rửa nên phun nước từ phía trước ra phía sau. Đồng thời cần uống đủ nước theo nhu cầu hàng ngày. 


PGS. TS. BS. Hà Hoàng Kiệm
Xem tiếp…

Điều trị viêm lộ tuyến cổ tử cung, tư vấn bác sĩ

16:05 |
Em năm nay 27 tuổi, đã có chồng và con 2 tuổi.Cách đây khoảng hơn 6 tháng, em bị viêm lộ tuyến độ 3 đã điều trị bằng áp lạnh.Nhưng khoảng 3 tháng sau em đi khám lại thì vẫn bị viêm lộ tuyến độ 2. 

Xin hỏi nếu điều trị bằng áp lạnh nữa có ảnh hưởng đến khả năng mang thai sau này. Và nếu không làm áp lạnh thì còn phương pháp nào chữa dứt điểm? 

 Nguyễn Thanh Thủy (Hà Nam) 


Bác sĩ trả lời:
Viêm đường sinh dục nữ là bệnh khá phổ biến ở phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ. Viêm âm đạo chiếm tỷ lệ cao nhất, tiếp đến là viêm lộ tuyến cổ tử cung, viêm cổ tử cung, viêm âm hộ... 

Lộ tuyến cổ tử cung là tổn thương lành tính nhưng nếu không điều trị có thể dẫn đến viêm lộ tuyến, tiền ung thư, ung thư cổ tử cung... Do vậy, điều trị sớm và triệt để các tổn tương lành tính cổ tử cung là nhằm phòng chống ung thư cổ tử cung. 

Để điều trị viêm lộ tuyến, có thể sử dụng một số biện pháp khác nhau như đặt thuốc âm đạo (sát cổ tử cung), uống thuốc hoặc phải dùng biện pháp diệt tuyến như đốt điện, áp lạnh... 

Thời điểm đốt điện là sau khi đặt thuốc chống viêm tại chỗ 5 ngày và sạch kinh được 2-5 ngày. Sau đốt diệt tuyến, người bệnh kiêng quan hệ tình dục ít nhất trong 4 tuần.Kết quả điều trị lộ tuyến cổ tử cung liên quan đến đường kính tổn thương. 

Những tổn thương có đường kính nhỏ hơn 2cm điều trị khỏi hoàn toàn 100%, còn các tổn thương có đường kính từ 2-2,5cm và lớn hơn 2,5cm thì kết quả kém hơn... Trường hợp của em lộ tuyến độ 3 thì phương pháp đốt điện sẽ kém hiệu quả hơn... 

Đốt điện là phương pháp đơn giản không gây biến chứng chít hẹp lỗ cổ tử cung, thậm chí đốt điện điều trị lộ tuyến cũng có tác dụng trong điều trị vô sinh nguyên nhân do viêm lộ tuyến. 

Tuy nhiên, phương pháp đốt điện cũng cần cân nhắc với người chưa sinh đẻ hoặc sinh chưa đủ số con. Vì vậy, em nên đi khám để điều trị theo chỉ định của bác sĩ em nhé. Ngoài ra, em cần chú ý vệ sinh vùng kín vào những ngày kinh nguyệt và sau khi quan hệ để phòng bệnh tái phát. 


BS.Trần Kim Anh
Xem tiếp…

Vì sao phụ nữ thường bị viêm nhiễm phụ khoa?

09:20 |
Ở phụ nữ, nhiễm khuẩn niệu rất phổ biến và dễ tái phát. Vi khuẩn gây bệnh có thể từ trực tràng, ở âm đạo, gây viêm nhiễm ngược dòng lên niệu đạo, bàng quang, bể thận. 

Vì sao phụ nữ dễ bị nhiễm khuẩn niệu?


Một nghiên cứu cho biết: ở Hoa Kỳ, mỗi năm có khoảng 7 triệu lượt khám ngoại trú và 1 triệu lượt nhập viện cấp cứu nhiễm khuẩn niệu. Trên 50% phụ nữ có một lần nhiễm khuẩn niệu trong đời. 

Trong độ tuổi 24, trên 30% phụ nữ bị ít nhất một đợt nhiễm khuẩn niệu phải điều trị bằng kháng sinh. Trong độ tuổi 16 -35, tỷ lệ nhiễm khuẩn niệu ở phụ nữ cao hơn 40 lần so với nam giới. Trong vòng 6 tháng sau lần nhiễm khuẩn đầu tiên, một phần ba phụ nữ bị tái phát. 

Nhiễm khuẩn niệu là sự hiện diện của vi sinh gây bệnh bên trong đường tiết niệu, đồng thời gây ra các triệu chứng của bệnh trên bệnh nhân. Nhiễm khuẩn niệu phức tạp thường xảy ra ở bệnh nhân: sỏi, nang thận nhiễm khuẩn, tổn thương tủy sống, đang đặt các loại ống thông; bệnh tiểu đường; có thai; suy giảm miễn dịch. 

Vi khuẩn xâm nhập vào đường tiết niệu theo 3 đường: ngược dòng, theo đường máu và lây lan từ ổ nhiễm khuẩn gần cơ quan niệu sinh dục. Tuy nhiên không phải lúc nào vi khuẩn cũng gây ra tình trạng nhiễm khuẩn niệu, vì khả năng nhiễm khuẩn còn phụ thuộc vào các yếu tố: độ pH thấp và tính ưu trương của nước tiểu; các chất nhầy của đường tiết niệu như protein, mức độ bám dính khác nhau giữa các vi khuẩn gây bệnh.

Phụ nữ dễ bị nhiễm khuẩn niệu hơn nam do những khác biệt về giải phẫu và sinh lý của cơ quan niệu sinh dục, đó là: lỗ niệu đạo nữ nằm rất gần âm đạo và trực tràng nên vi khuẩn dễ lây lan ngược dòng. Ở âm đạo luôn có sẵn một hệ vi khuẩn kỵ khí và hiếu khí, nhưng trong điều kiện bình thường chúng không gây nhiễm khuẩn niệu. Nhưng khi hệ vi sinh này bị thay thế bởi hệ vi sinh gây bệnh, có nguồn gốc từ trực tràng, thì mới gây nhiễm khuẩn niệu. 

Niệu đạo nữ ngắn hơn niệu đạo nam nên vi khuẩn dễ xâm nhập ngược dòng vào bàng quang. Giao hợp là một yếu tố dễ gây nhiễm khuẩn niệu. Theo Hooton, ở phụ nữ luôn có tình trạng khuẩn niệu thoáng qua ngay sau giao hợp. Thời kỳ mãn kinh, vì giảm estrogen, phụ nữ dễ bị nhiễm khuẩn niệu do: niêm mạc âm đạo teo đi, môi trường âm đạo bớt tính acid và giảm số lượng vi khuẩn lactobacilli. 

Nhiễm khuẩn niệu chủ yếu là do vi khuẩn đi từ niệu đạo vào bàng quang gây viêm bàng quang. Do viêm niệu đạo bàng quang phù nề làm cho khúc nối bàng quang - niệu quản không đóng kín được khi rặn tiểu, khi đó nước tiểu có vi khuẩn sẽ đi ngược dòng lên bể thận gây nhiễm khuẩn. Hầu hết nhiễm khuẩn niệu do vi khuẩn gram âm, trong đó E. coli chiếm 80%. 


Cách phát hiện và điều trị nhiễm khuẩn niệu 

Viêm niệu đạo và bàng quang cấp: Trên thực tế, để phân biệt viêm niệu đạo cấp và viêm bàng quang cấp là rất khó vì các dấu hiệu gần giống nhau. Viêm niệu đạo cấp thì đi tiểu đau, tiểu khó, chảy dịch niệu đạo, tác nhân gây bệnh thường là Chlamydia trachomatis, Neisseria gonorhea, Herpes simplex. 

Viêm bàng quang cấp cũng đi tiểu đau, tiểu khó, tiểu gấp, tiểu nhiều lần, tiểu máu và đau vùng trên xương mu. Đối với bệnh nhân nữ khỏe mạnh, mới bị lần đầu viêm bàng quang cấp, có thể bị điều trị ngay bằng kháng sinh mà không cần cấy nước tiểu. Dùng thuốc 7-10 ngày, hầu hết bệnh nhân đều khỏi. 

Tuy nhiên khoảng 1/3 số bệnh nhân này sẽ tái phát, khi đó bắt buộc phải cấy nước tiểu để tìm vi khuẩn và làm kháng sinh đồ. Nếu bệnh nhân tái phát trên 3 lần trong một năm thì cần tìm các bất thường về phụ khoa. Chụp Xquang để phát hiện sỏi, niệu quản lạc chỗ, túi thừa đài thận. 

Viêm đài bể thận cấp: Biểu hiện thường gặp là sốt, buồn nôn, mệt mỏi, đau hông, đau lưng. Trước khi điều trị phải cấy nước tiểu làm kháng sinh đồ. Nếu nhiễm khuẩn không phức tạp có thể dùng kháng sinh 7 ngày. 

Trường hợp các triệu chứng không giảm, phải cho bệnh nhân nhập viện dùng kháng sinh tĩnh mạch theo kháng sinh đồ từ 10 - 14 ngày. Ngay khi có triệu chứng nhiễm khuẩn niệu ở phụ nữ, có thể điều trị bằng kháng sinh, tốt nhất là dùng nhóm fluoroquinolone, vì khoảng 40% số vi khuẩn gây nhiễm khuẩn niệu kháng với aminopenicillin và 20% kháng với trimethoprim-sulfamethoxazole. 

Những phụ nữ bị tái phát trên 3 lần trong năm nên dùng kháng sinh dự phòng. Cách dùng kháng sinh dự phòng: dùng liên tục mỗi ngày, liều thấp, thích hợp cho những phụ nữ có trên 3 đợt tái phát trong 1 năm; dùng kháng sinh khi có triệu chứng; dự phòng sau giao hợp. 

Nhiễm khuẩn niệu ở phụ nữ có thai: Nhiều nghiên cứu thấy rằng có từ 4 - 6% thai phụ có thai bị nhiễm khuẩn niệu, dễ dẫn đến viêm đài bể thận, sinh non, tử vong sơ sinh. Do đó phải điều trị khỏi hẳn các nhiễm khuẩn niệu cho phụ nữ mang thai. 

Dùng tốt nhất là các thuốc: penicillin, cephalosporin, nitrofurantoin. Không nên dùng fluoroquinolone vì ảnh hưởng đến sự phát triển sụn của thai và TMP - SMX gây ức chế acid folic làm thiếu máu cho thai. 

Nhiễm khuẩn niệu ở trẻ em gái: Một số nghiên cứu cho thấy có khoảng 3% trẻ em gái chưa đến tuổi dậy thì bị nhiễm khuẩn niệu, trong đó gần 30% bị tái phát trong vòng 3 năm. 

Nếu bị tái phát, tổn thương gây ra những vết sẹo ở chủ mô thận, đây là nguyên nhân làm tăng nguy cơ bệnh thận ở tuổi trưởng thành. Vì vậy cần điều trị tích cực, dứt điểm các trẻ gái có viêm ngược dòng bàng quang niệu quản, nên dùng kháng sinh dự phòng để ngăn ngừa nhiễm khuẩn tiểu trên. 


BS. Nguyễn Kiều Linh
Xem tiếp…

Không lạm dụng dung dịch vệ sinh phụ nữ

09:00 |
Dung dịch vệ sinh phụ nữ còn gọi là thuốc rửa phụ khoa. Đây là dung dịch có tác dụng tẩy rửa được bào chế dành riêng cho việc vệ sinh vùng kín nhằm phòng ngừa và giảm thiểu bệnh phụ khoa ở phụ nữ. Muốn sử dụng có hiệu quả và an toàn, chị em cần có kiến thức đầy đủ về công dụng của chúng. 

Nhận biết viêm sinh dục 

Nhiễm khuẩn sinh dục - tiết niệu (gọi tắt là viêm sinh dục) là bệnh phụ khoa thường gặp ở phụ nữ do cấu trúc niệu đạo ngắn và có vị trí gần hậu môn nên dễ bị vi khuẩn gây bệnh xâm nhập. 




Khi có sự xâm nhập của các mầm bệnh thì bất cứ phần nào của đường tiểu, sinh dục kể cả phần trên của thận, niệu quản, bàng quang cũng có thể viêm nhiễm, nhưng thường là viêm sinh dục dưới, bao gồm: viêm âm hộ, âm đạo, viêm cổ tử cung. 

Triệu chứng chung biểu hiện tình trạng viêm sinh dục thường là bị “huyết trắng” hay còn gọi là “khí hư”, một dịch trong nhầy, không màu, tiết ra từ cửa mình người nữ (gọi là “trắng” để phân biệt không phải “máu”). Tuy nhiên cần phân biệt rõ: huyết trắng sinh lý và huyết trắng bệnh lý. 

Khi bị viêm sinh dục, huyết trắng sẽ có mùi hôi, màu trắng đục, xanh hay vàng nhạt, gây ngứa có thể kèm theo tiểu dắt, tiểu buốt, giao hợp đau. Tác nhân gây viêm âm đạo có nhiều loại, có thể do vi khuẩn gây bệnh lậu, do trùng roi (loại ký sinh trùng sống trong nước ở đồng ruộng, sông nước), do vi nấm (như nấm Candida gây ngứa), hay do nhiều loại vi khuẩn khác nhau gọi là “tạp trùng”. 

Và dùng đúng thuốc vệ sinh phụ nữ 

Cần xác định, dung dịch vệ sinh phụ nữ (thuốc rửa phụ khoa) không phải thuốc trị bệnh... Vì thế, không nên lạm dụng nó. Tiêu chuẩn của dung dịch vệ sinh phụ nữ được bào chế phải phù hợp với độ pH có trong môi trường âm đạo. Chúng được dùng để hỗ trợ trong điều trị viêm nhiễm âm hộ, âm đạo… 

Các dung dịch này phải không gây khô, rát, không thay đổi độ pH, không làm chết vi khuẩn thường trú có lợi. Trong sinh hoạt hàng ngày, khi vấn đề vệ sinh không đạt yêu cầu và bắt đầu có sự viêm nhiễm, có thể sử dụng thuốc rửa phụ khoa để rửa âm hộ, âm đạo. 

Nhiều thuốc rửa phụ khoa chứa đồng sulfat là hoạt chất sát trùng tại chỗ, có tác dụng diệt các loại vi khuẩn gây bệnh trên da và niêm mạc (như staphylococcus, streptococcus), trị vi nấm đặc biệt là nấm men Candida và trùng roi trichomonas. 

Các thuốc rửa phụ khoa đều có chứa tá dược tẩy rửa thích hợp, chứa chất tạo pH lý tưởng cho môi trường âm hộ, âm đạo của phụ nữ, ví dụ acid lactic, lactoserum được xem là thành phần tự nhiên được chiết xuất từ sữa tươi, giúp việc rửa sạch âm hộ, âm đạo. 

Chỉ nên dùng thuốc rửa phụ khoa rửa âm hộ, âm đạo trong một thời gian nhất định để đạt yêu cầu vệ sinh cá nhân hoặc khi nghi ngờ có sự viêm nhiễm sinh dục dưới. 

Nếu dùng thuốc quá thường xuyên và kéo dài khi không có dấu hiệu bất thường ở bộ phận sinh dục có thể làm chết đi các vi khuẩn có ích sống tại bộ phận sinh dục có tác dụng bảo vệ chống sự xâm nhiễm của các mầm bệnh. 



Không nên dùng thuốc rửa phụ khoa vệ sinh vùng kín quá nhiều lần trong ngày. Khi sử dụng thuốc rửa phụ khoa nếu thấy vùng kín bị nóng rát, đỏ bất thường và khó chịu, cần ngưng sử dụng ngay và nên đến bác sĩ để khám vì có thể bạn đã bị dị ứng với một thành phần nào đó có trong thuốc rửa. 

Đặc biệt, nếu dùng thuốc rửa phụ khoa mà huyết trắng bệnh lý vẫn kéo dài nên đi bác sĩ chuyên khoa để được khám và điều trị đúng. Một số phụ nữ trẻ do e ngại việc khám phụ khoa và giấu giếm bệnh khiến huyết trắng bệnh lý, viêm sinh dục kéo dài dẫn đến vô sinh sau này, tức không thể có con trong điều kiện tự nhiên… 

Điều hết sức quan trọng đối với phụ nữ là phòng ngừa huyết trắng bệnh lý và các bệnh nhiễm trùng sinh dục - tiết niệu nói chung. Giữ vệ sinh bộ phận sinh dục được xem là yêu cầu hàng đầu bằng cách: năng rửa ráy, vệ sinh sau khi tiêu tiểu; không mặc quần lót quá chật, nên thay quần lót mỗi ngày, giặt, phơi, ủi quần lót sạch sẽ, không để ẩm; 

Vệ sinh kinh nguyệt tốt vì kinh nguyệt là môi trường thuận lợi để vi khuẩn, mầm bệnh phát triển (thay băng vệ sinh thường xuyên, tránh giao hợp khi có kinh nguyệt); Giữ vệ sinh sau khi sinh hoạt vợ chồng và giáo dục cho trẻ em gái có ý thức vệ sinh cá nhân ngay từ nhỏ. 


PGS.TS.Nguyễn Hữu Đức
Xem tiếp…

Vệ sinh đúng cách phòng viêm nhiễm phụ khoa

08:45 |
Kinh nguyệt là hiện tượng bình thường của các bạn nữ khi đến tuổi dậy thì. Trong những ngày hành kinh, lúc máu kinh thoát ra ngoài, cổ tử cung hở hơn những ngày không có kinh, tạo điều kiện cho vi khuẩn dễ xâm nhập từ âm đạo vào buồng tử cung. 

Ngoài ra nhiều người không biết giữ vệ sinh hoặc vệ sinh không đúng cách cộng với một số quan niệm sai lầm hay “kiêng kỵ” tắm rửa khi hành kinh chính là nguyên nhân gây viêm nhiễm đường sinh dục như viêm âm hộ, âm đạo, viêm cổ tử cung,... có thể gây ra nhiều biến chứng, ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ sinh sản của người phụ nữ. 



Để vệ sinh kinh nguyệt đúng cách, cần thực hiện như sau: 

Vào những ngày có kinh mặc dù cơ thể có mệt mỏi nhưng không nên “kiêng” hoặc ngại mà cần phải tắm rửa thường xuyên. Cần tắm ở nơi kín gió, dùng nước sạch để tắm, không dùng nước múc ở ao, hồ, sông, suối. 

Không nên ngâm người trong bồn tắm, ao, hồ hoặc bơi lội. hay băng vệ sinh (hoặc vải xô) 4 - 5 lần một ngày. Mỗi lần thay băng vệ sinh dùng nước chín còn ấm thay rửa. 

Không nên sử dụng xà phòng tắm để vệ sinh vì nhiều người theo thói quen hoặc có suy nghĩ là xà phòng diệt khuẩn tốt nên thường vệ sinh bằng xà phòng tắm. Đây cũng là một nguyên nhân làm tăng nguy cơ nhiễm khuẩn vì chất kiềm trong xà phòng làm rối loạn độ cân bằng kiềm toan của âm hộ, âm đạo. 

Chỉ nên dùng nước rửa vệ sinh phụ nữ có thành phần diệt khuẩn, chiết xuất từ thảo dược, giữ độ cân bằng pH. Nên rửa sạch tay và cắt móng tay trước những ngày có kinh; khi rửa đưa tay từ phía trước về phía sau chứ không đưa tay từ phía sau về trước. 

Không đưa tay thụt rửa hay làm cho nước vệ sinh vào sâu trong âm đạo; rửa xong nên dùng khăn bông khô sạch thấm nhẹ nhàng. Nếu bạn dùng bằng vải xô thì cần ngâm xà phòng và giặt thật sạch, phơi ở nơi có nắng, ít bụi là tốt nhất. 

Ngoài ra cần chú ý ăn uống điều độ, đủ chất. Tránh chạy nhảy hoặc lao động nặng trong những ngày có kinh. 

Những hiểu biết cũng như ý thức giữ vệ sinh trong thời kỳ kinh nguyệt sẽ giúp người phụ nữ cảm thấy thoải mái hơn và phòng tránh được những viêm nhiễm đường sinh dục do thiếu vệ sinh gây ra. 


Bác sĩ Thúy An
Xem tiếp…

Tuyệt chiêu giúp chị em tránh viêm nhiễm phụ khoa

09:15 |
Thời tiết âm u, mưa phùn nhếch nhác khiến độ ẩm cao, nhiệt độ thấp, tạo điều kiện cho các vi sinh vật, nấm, các vi khuẩn gây bệnh phát triển mạnh và phát tán trong không gian. Đây là nguyên nhân chính khiến chị em phụ nữ dễ mắc các bệnh phiền toái như viêm nhiễm phụ khoa. 



Triệu chứng nhỏ, đừng bỏ qua 

Thời tiết ẩm ướt cũng là cơ hội “vàng” để cho các bệnh viêm nhiễm đường sinh sản phát triển. Nhiều chị em thấy có những biểu hiện khác thường ở vùng kín như ra khí hư nhiều, khí hư đục đặc mùi hôi khó chịu, kèm theo ngứa rát, cá biệt có chị còn đi tiểu thấy cảm giác nóng, buốt, khi “gần chồng” thấy đau rát... Đấy là những dấu hiệu ban đầu cho thấy bạn đang bị viêm nhiễm phụ khoa. Ảnh minh họa. 

Viêm nhiễm phụ khoa sẽ tấn công nhiều hơn tới những chị em thường xuyên có thói quen mặc quần jeans bó sát, hoặc mặc quần tất với chất liệu chủ yếu là nilon. Vì lượng dịch tiết sinh lý từ vùng kín không thoát được ra ngoài mà đọng lại, tạo ra môi trường thuận lợi cho vi khuẩn và nấm gây hại tăng sinh. 

Đây là căn bệnh mà hầu hết chị em nào cũng mắc phải. Nó chưa nguy hiểm trực tiếp đến tính mạng nhưng luôn gây phiền toái cho chị em. Tuy nhiên đã nhiều trường hợp do chủ quan, không chữa trị dứt điểm dẫn đến hậu quả rất nghiêm trọng như: bị bội nhiễm do vi trùng, dẫn đến viêm nhiễm vùng chậu, viêm nhiễm vùng kín – những bệnh tưởng chừng đơn giản những rất dễ dẫn đến vô sinh và thậm chí còn gây tử vong khi có biến chứng. 

Các chứng bệnh viêm nhiễm vùng kín dễ mắc phải nhất trong thời gian này phải kể đến nấm vùng kín, viêm âm đạo, nấm âm đạo, nấm candida... Một lời khuyên tốt nhất là chị em không nên tự ý dùng thuốc để điều trị căn bệnh khó nói này, mà cần được sự chỉ dẫn và tư vấn của bác sĩ chuyên khoa. Vì lạm dụng thuốc, sử dụng dung dịch vệ sinh không đúng có thể làm mất cân bằng độ pH ở vùng kín, gây khó khăn cho việc điều trị sau này. 



Những việc làm cần thiết để tránh nhiễm bệnh 

 - Phơi quần lót ra chỗ thoáng. 

- Thay quần áo lót thường xuyên. 

- Vệ sinh sạch sẽ vùng kín mỗi ngày và giữ vùng kín luôn khô ráo. Bạn không nên vệ sinh quá 2 lần/ngày bởi “sạch” quá, môi trường vi khuẩn tự nhiên của vùng kín dễ bị mất cân bằng cũng dễ nhiễm bệnh. 

 - Chú ý hong, sấy khô hay là quần áo đặc biệt là quần áo lót trước khi mặc (nếu chúng hơi ẩm hoặc trời nồm). Nếu có điều kiện thì hãy giặt quần áo lót bằng nước nóng. 

- Không mặc quần áo lót bó, chật. Chọn quần áo lót vải cotton để thoáng khí. 

 - Quan hệ tình dục an toàn. Đặc biệt trước và sau khi “quan hệ”, chị em cần phải vệ sinh sạch sẽ kể cả nam và nữ đẻ tránh mắc phải các bệnh tình dục. 

- Hạn chế stress, lo lắng, mệt mỏi kéo dài; tích cực luyện tập thể dục thể thao và có chế độ ăn uống khoa học. 

- Khi có các biểu hiện ngứa ngáy, khí hư nhiều, đục, hôi cần đến khám ngay. Không nên tự mua thuốc về đặt âm đạo vì cần xác định là viêm nhiễm hay do nấm âm đạo...
Xem tiếp…

ads

.

Ý kiến đóng góp của bạn





XEM NHIỀU